• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Đồng chí Lê Quốc Phong được bầu làm Bí thư thứ nhất BCH Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh

Web.ĐTN: Tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đoàn khóa X diễn ra sáng 21/4/2016, đồng chí Lê Quốc Phong - Ủy viên dự khuyết BCH Trung ương Đảng, Bí thư BCH Trung ương Đoàn, Chủ tịch Hội Sinh viên Việt Nam đã được bầu giữ chức Bí thư thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đoàn khóa X, nhiệm kỳ 2012-2017.

 

Tham dự Hội nghị có đồng chí Phạm Minh Chính - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương; đồng chí Trương Thị Mai - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Dân vận Trung ương; đồng chí Nguyễn Đắc Vinh - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn, Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An; cùng đại diện các Ban của Đảng và các Bộ, ngành Trung ương.
 
Đồng chí Phạm Minh Chính -  Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương chúc mừng đồng chí Nguyễn Đắc Vinh và đồng chí Lê Quốc Phong trên cương vị công tác mới. Ảnh Bảo Anh
 
 
 
Tại Hội nghị, đồng chí Phạm Minh Chính đã trao quyết định thôi giữ chức Bí thư thứ nhất BCH Trung ương Đoàn, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc gia về Thanh niên Việt Nam cho đồng chí Nguyễn Đắc Vinh. Hội nghị cũng nhất trí cho đồng chí Nguyễn Đắc Vinh rút khỏi Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Trung ương Đoàn khóa X để thực hiện nhiệm vụ theo phân công của Bộ Chính trị.
 
 
Để kiện toàn Ban chấp hành Trung ương Đoàn khóa X, Hội nghị đã bỏ phiếu bầu Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn khóa X, nhiệm kỳ 2012 – 2017. Với 134/134 phiếu đồng ý, đồng chí Lê Quốc Phong - Ủy viên dự khuyết BCH Trung ương Đảng, Bí thư BCH Trung ương Đoàn, Chủ tịch Hội Sinh viên Việt Nam đã được bầu làm Bí thư thứ nhất BCH Trung ương Đoàn khóa X, nhiệm kỳ 2012-2017.
 
 
Phát biểu tại Hội nghị, đồng chí Phạm Minh Chính - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương chúc mừng đồng chí Nguyễn Đắc Vinh được Bộ Chính trị tin tưởng, tín nhiệm phân công giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An và đồng chí Lê Quốc Phong được BCH Trung ương Đoàn tín nhiệm cao bầu làm Bí thư thứ nhất BCH Trung ương Đoàn.
 
 
Đồng chí Phạm Minh Chính khẳng định, đồng chí Nguyễn Đắc Vinh là cán bộ trẻ, nhiều triển vọng, được đào tạo cơ bản, đã giữ nhiều vị trí khác nhau trong phong trào Đoàn từ cơ sở đến Trung ương, dù ở cương vị công tác nào, đồng chí luôn nỗ lực hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao. Đặc biệt trong 8 năm làm cán bộ lãnh đạo Đoàn chuyên trách, đồng chí đã cùng tập thể Ban Bí thư Trung ương Đoàn củng cố và xây dựng nội bộ cơ quan Trung ương Đoàn ổn định, đoàn kết, nhất trí cao; đội ngũ cán bộ Đoàn được xây dựng hợp lý từ nhiều nguồn đa dạng, giàu chất lượng.. đặc biệt, bước đầu đã tập hợp được lực lượng doanh nhân trẻ, trí thức trẻ tham gia các hoạt động của Đoàn; đội ngũ cán bộ Đoàn chủ chốt được chuẩn hóa và trẻ hóa; phong trào đoàn phát triển về quy mô, chất lượng; chất lượng Đoàn viên được củng cố và nâng cao rõ rệt... Trên cương vị mới Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An, mong đồng chí tiếp tục phát huy năng lực, sở trường, kinh nghiệm để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
 
 
Đối với tân Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn, đồng chí Phạm Minh Chính cho rằng, đồng chí Lê Quốc Phong là cán bộ trẻ, được đào tạo bài bản, sớm tham gia công tác Đoàn và phong trào TTN và trưởng thành từ công tác Đoàn tại TP HCM. Đã kinh qua nhiều vị trí công tác, dù ở cương vị công tác nào, đồng chí Lê Quốc Phong luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, có nhiều sáng kiến, thái độ làm việc nghiêm túc, trách nhiệm, nhiệt tình và quyết đoán. Trên cương vị mới là người đứng đầu tổ chức chính trị xã hội lớn nhất của thanh niên Việt Nam, đòi hỏi đồng chí Lê Quốc Phong phải quyết tâm phấn đấu, rèn luyện hơn nữa để đáp ứng những yêu cầu của nhiệm vụ được giao trong tình hình hiện nay. Hi vọng đồng chí Lê Quốc Phong sẽ phát huy sức trẻ, nhiệt huyết, năng động và bản lĩnh của mình để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Bộ Chính trị giao phó.
 
 
Đồng chí Trương Thị Mai - Trưởng Ban Dân vận Trung ương chúc mừng tân Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An và tân Bí thư thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đoàn. Ảnh Bảo Anh
 
Phát biểu nhận nhiệm vụ mới, tân Bí thư thứ nhất BCH Trung ương Đoàn Lê Quốc Phong xúc động nói: "Tôi ý thức sâu sắc rằng, đây là vinh dự to lớn nhưng cũng là nhiệm vụ rất nặng nề mà các đồng chí tin tưởng, giao phó. Tuy đã gắn bó với Đoàn, với công tác thanh niên nhiều năm, nhưng từ thời điểm này và chặng đường sắp tới, với trọng trách người đứng đầu tổ chức, tôi cần phải nỗ lực, cố gắng nhiều hơn nữa, tận tâm, tận lực, cùng các đồng chí trong Ban chấp hành, cán bộ Đoàn và đoàn viên cả nước hoàn thành tốt các nhiệm vụ, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ X và các chủ trương, nghị quyết của Đảng về công tác thanh niên; nhằm xây dựng tổ chức Đoàn ngày càng vững mạnh, tiếp nối một cách xứng đáng truyền thống vẻ vang của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và tuổi trẻ Việt Nam.
 
Đồng chí Phạm Minh Chính - Trưởng Ban Tổ chức Trung ương, đồng chí Trương Thị Mai - Trưởng Ban Dân vận Trung ương cùng Ban Bí thư Trung ương Đoàn chúc mừng tân Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An và tân Bí thư thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đoàn. Ảnh Bảo Anh
 
 
 
Có những câu hỏi tôi đã tự đặt ra cho mình khi đón nhận nhiệm vụ quan trọng này: làm thế nào để Đoàn tiếp tục truyền được cảm hứng, khơi dậy những khát vọng cao đẹp và hành động để hiện thực hoá những khát vọng đó trong mỗi người thanh niên? Làm thế nào để mỗi thanh niên Việt Nam dù ở bất cứ nơi đâu đều tìm được ở Đoàn những gợi ý, những chia sẻ về những vấn đề mình quan tâm? Làm thế nào để Đoàn tiếp tục tập hợp, phát huy cao nhất tiềm năng to lớn của tuổi trẻ Việt Nam trong và ngoài nước đóng góp cho sự phát triển đất nước? Và trước những vấn đề của thanh niên và xã hội quan tâm đến thanh niên: đạo đức, lối sống, khởi nghiệp, việc làm, kỹ năng thực hành xã hội, tri thức và kỹ năng để hội nhập quốc tế,… Đoàn sẽ có những chương trình, hoạt động gì cụ thể, dẫn dắt, định hướng cho thanh niên?... Tuy có thể chưa đầy đủ, toàn diện, nhưng tôi xem đó là những vấn đề bản thân cần tập trung cùng tập thể Ban bí thư, Ban thường vụ, Ban chấp hành Trung ương Đoàn tìm câu trả lời".
TÓM TẮT TIỂU SỬ TÂN BÍ THƯ THỨ NHẤT BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐOÀN
 
 
Họ và tên:  LÊ QUỐC PHONG
 
Ngày sinh:  03/05/1978
 
Quê quán: Hoàn Kiếm, Hà Nội
 
Dân tộc: Kinh
 
Ngày vào Đảng: 19/5/2000; ngày chính thức 19/5/2001
 
Trình độ học vấn: 12/12
 
Trình độ thạc sỹ: Thạc sỹ Sinh học
 
Lý luận chính trị: Cao cấp
 
Chức vụ hiện nay: Ủy viên dự khuyết BCH Trung ương Đảng khóa XII, Bí thư thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đoàn khóa X, nhiệm kỳ 2012 - 2017; Chủ tịch Trung ương Hội Sinh viên Việt Nam khóa IX, nhiệm kỳ 2013 - 2018.
 
 
Đồng chí Lê Quốc Phong, Bí thư thứ nhất BCH Trung ương Đoàn. Ảnh Bảo Anh
 
 
TÓM TẮT QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC:
 
 
- Từ 9/1993 – 9/1995: Ủy viên BCH Đoàn trường THPT chuyên Lê Hồng Phong.
 
 
- Từ 3/1997 – 11/1999: Ủy viên BTV, Phó Bí thư Đoàn trường, Chủ tịch Hội Sinh viên trường Đại học Khoa học tự nhiên TP Hồ Chí Minh, Ủy viên BCH Trung ương Hội Sinh viên Việt Nam, Ủy viên Ban Thư ký Hội Sinh viên TP Hồ Chí Minh.
 
 
- Từ 11/2002 – 12/2004: Bí thư Đoàn trường Đại học Khoa học Tự nhiên TP Hồ Chí Minh, Ủy viên BCH Trung ương Hội Sinh viên Việt Nam, Ủy viên Ban thư ký Hội sinh viên TP Hồ Chí Minh, Phó trưởng Phòng công tác chính trị trường Đại học Khoa học tư nhiên TP Hồ Chí Minh (từ 4/2003), Bí thư chi bộ Sinh viên, Ủy viên BCH Đảng bộ Trường Đại học Khoa học Tự nhiên TP Hồ Chí Minh,, Phó Bí thư Ban cán sự Đoàn Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh, Ủy viên BCH Thành Đoàn TP Hồ Chí Minh.
 
 
- Từ 01/2005 – 9-2007: Ủy viên Ban Thường vụ Thành Đoàn TP Hồ Chí Minh (từ 01/2005), Phó trường Ban Đại học chuyên nghiệp Thành Đoàn (từ 01/2005), Bí thư Ban Cán sự Đoàn Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh (từ 10/2005), Ủy viên BCH Đảng bộ Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh (từ 3/2006), Phó Chủ tịch Hội sinh viên TP Hồ Chí Minh (từ 01/2005).
 
 
- Từ 9/2007 – 4/2009: Phó Bí thư Thành Đoàn (từ 10/2007), Trưởng Ban Thanh niên trường học Thành Đoàn (từ 9/2007), Ủy viên BCH Trung ương Đoàn (từ 12/2007), Chủ tịch Hội Sinh viên TP Hồ Chí Minh (từ 4/2008), Phó Chủ tịch Trung ương Hội Sinh viên Việt Nam (từ 2/2009).
 
 
- Từ 04/2009 – 2012: Ủy viên BCH Trung ương Đoàn, Phó Bí thư Thường trực, Trưởng Ban Thanh niên trường học Thành Đoàn TP Hồ Chí Minh (từ 9/2009), Phó  Chủ tịch Trung ương Hội Sinh viên Việt Nam, Chủ tịch Hội Sinh viên TP Hồ Chí Minh.
 
 
- Từ tháng 7/2013: Thành ủy viên TP Hồ Chí Minh.
 
 
- Từ tháng 3/2013: Ủy viên Ban Thường vụ Trung ương Đoàn, Phó Chủ tịch Trung ương Hội Sinh viên Việt Nam khóa VIII, Bí thư Thành Đoàn TP Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội LHTN Việt Nam TP Hồ Chí Minh.
 
 
- Ngày 21/12/2013, tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đoàn lần thứ 4 – khóa X, đồng chí Lê Quốc Phong - Ủy viên Ban Thường vụ Trung ương Đoàn khóa X, Bí thư Thành Đoàn TP Hồ Chí Minh được bầu làm Bí thư Trung ương Đoàn khóa X.
 
 
- Tại Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Sinh viên Việt Nam lần thứ IX diễn ra từ ngày 27-29/12/2013, đồng chí Lê Quốc Phong - Bí thư Trung ương Đoàn khóa X được bầu làm Chủ tịch Hội Sinh viên Việt Nam khóa IX, nhiệm kỳ 2013 - 2018.
 
 
- Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng diễn ra từ ngày 20-28/1/2016 tại Hà Nội, đồng chí Lê Quốc Phong - Bí thư Trung ương Đoàn, Chủ tịch Hội Sinh viên Việt Nam được bầu vào Ủy viên dự khuyết BCH Trung ương Đảng.
 
 
- Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đoàn khóa X ngày 21/4/2016, đồng chí Lê Quốc Phong được bầu giữ chức Bí thư thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.
 
 
  

 

Kiều Anh

Chỉ thị về học tập, quán triệt, tuyên truyền, triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng

Bộ Chính trị vừa ban hành Chỉ thị số 01-CT/TW, ngày 22/3/2016 về học tập, quán triệt, tuyên truyền, triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng. Trang tin Điện tử Đảng bộ TPHCM trân trọng giới thiệu toàn văn Chỉ thị này:

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã thành công tốt đẹp. Đại hội thông qua Nghị quyết và các văn kiện Đại hội (sau đây gọi chung là Nghị quyết Đại hội XII của Đảng).

Học tập, quán triệt, tuyên truyền, triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng có ý nghĩa, tầm quan trọng đặc biệt nhằm tạo sự chuyển biến về nhận thức, thống nhất ý chí và hành động trong Đảng và sự đồng thuận cao trong nhân dân; cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn dân và toàn quân phát huy cao độ tinh thần yêu nước, ý chí tự lực tự cường và sức mạnh toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XII của Đảng. Đồng thời, đợt sinh hoạt chính trị này góp phần quan trọng tăng cường xây dựng Đảng về chính trị tư tưởng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ; thuyết phục, chấn chỉnh, uốn nắn những nhận thức lệch lạc; đấu tranh có hiệu quả với các quan điểm sai trái, thù địch.

Việc tổ chức học tập, quán triệt, tuyên truyền, triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng là một nhiệm vụ trọng tâm trong năm 2016, cần được tổ chức một cách thiết thực, hiệu quả; bảo đảm để mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp đều quán triệt, nắm vững và thực hiện đúng đắn, sáng tạo Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, phù hợp với diễn biến tình hình và điều kiện thực tế của địa phương, cơ quan, đơn vị.

Với tinh thần và ý nghĩa quan trọng đặc biệt đó, nhằm đạt được mục đích, yêu cầu nêu trên, Bộ Chính trị yêu cầu các cấp uỷ, tổ chức đảng, các cấp, các ngành tập trung thực hiện tốt các nội dung sau:

1- Toàn thể cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ chủ chốt các cấp và người đứng đầu đều có trách nhiệm học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội XII của Đảng.Các cấp uỷ, tổ chức đảng, trực tiếp là người đứng đầu, chịu trách nhiệm chỉ đạo, chủ trì việc tổ chức học tập, quán triệt, xây dựng chương trình hành động của cấp uỷ, tổ chức đảng, kế hoạch hành động của cá nhân thực hiện Nghị quyết Đại hội; chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát và hằng năm đánh giá kết quả thực hiện của địa phương, cơ quan, đơn vị mình.

2Các văn kiện cần tập trung nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền gồm: Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI về các văn kiện Đại hội XII của Đảng do đồng chí Tổng Bí thư trình bày tại Đại hội; Báo cáo chính trị; Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 - 2015 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020; Báo cáo tổng kết thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay".

Trên cơ sở các văn kiện trên, Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp với các tổ biên tập Tiểu ban Văn kiện, Tiểu ban Kinh tế - xã hội Đại hội XII của Đảng và Hội đồng Lý luận Trung ương biên soạn tài liệu học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XII của Đảng phù hợp với từng đối tượng, đi thẳng vào vấn đề,ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ triển khai thực hiện.

3- Tổ chức học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội XII của Đảng phải được tiến hành khẩn trương, nghiêm túc, đổi mới mạnh mẽ cả nội dung và phương thức, bảo đảm phù hợp với từng cấp, từng đối tượng. Kết hợp tự nghiên cứu với nghe phổ biến, kết hợp giữa học tập, quán triệt với thảo luận, thông qua chương trình hành động của cấp uỷ, tổ chức đảng; kết hợp chặt chẽ giữa thuyết trình với thảo luận, đối thoại giữa báo cáo viên và người nghe, với thu hoạch, kiểm tra, đánh giá việc học tập, quán triệt Nghị quyết.

Đối với cán bộ chủ chốt các cấp từ Trung ương đến cơ sở và đội ngũ báo cáo viên Trung ương, tổ chức các lớp học tập, nghiên cứu sâu những quan điểm cơ bản, tư tưởng chỉ đạo, nội dung cốt lõi, những vấn đề mới của Nghị quyết Đại hội, tập trung chủ yếu vào phần đánh giá, dự báo tình hình, mục tiêu tổng quát, các chỉ tiêu quan trọng, các nhiệm vụ và giải pháp, nhất là sáu nhiệm vụ trọng tâm trong 5 năm 2016 - 2020 nêu trong Nghị quyết Đại hội; trong đó, chú trọng những nội dung liên quan đến ngành, lĩnh vực, nhiệm vụ của đối tượng học tập, quán triệt Nghị quyết.

Đối với cán bộ, đảng viên ở cơ sở, tổ chức các lớp học tập, quán triệt tập trung chủ yếu vào phần mục tiêu tổng quát, các chỉ tiêu quan trọng, các nhiệm vụ, giải pháp, nhất là sáu nhiệm vụ trọng tâm trong 5 năm 2016 - 2020 nêu trong Nghị quyết.

Đối với các báo cáo viên, cán bộ, giảng viên và cán bộ theo học các lớp đào tạo, bồi dưỡng trong các học viện, trường chính trị và trường đào tạo cán bộ của hệ thống chính trị, cần tổ chức học tập, nghiên cứu sâu theo các chuyên đề về những quan điểm cơ bản, tư tưởng chỉ đạo, nội dung cốt lõi, nhất là những vấn đề mới của Nghị quyết Đại hội và cơ sở lý luận - thực tiễn.

Thời gian tổ chức các lớp nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đối với các ban đảng, đảng đoàn, ban cán sự đảng và cấp uỷ trực thuộc Trung ương hoàn thành trong quý II-2016; cấp huyện và cấp cơ sở hoàn thành trong quý III-2016.

4- Bí thư cấp uỷ, người đứng đầu cơ quan, đơn vị có trách nhiệm trực tiếp truyền đạt Nghị quyết Đại hội XII của Đảng; trường hợp cần thiết, có sự hỗ trợ của báo cáo viên.

Đội ngũ báo cáo viên phải là những người nghiên cứu sâu, nắm vững Nghị quyết, có tư duy, quan điểm đúng đắn, có bản lĩnh, tâm huyết và trách nhiệm, có kinh nghiệm, nghiệp vụ, kỹ năng, bảo đảm truyền đạt trung thực, chính xác, sinh động nội dung Nghị quyết, phù hợp với từng đối tượng cụ thể.

5- Cấp uỷ, chính quyền và tổ chức chính trị - xã hội các cấp xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng gắn với chức năng, nhiệm vụ, phù hợp với đặc điểm, tình hình địa phương, cơ quan, đơn vị, bảo đảm khả thi, thiết thực, hiệu quả.

Người đứng đầu cấp uỷ, chính quyền, cơ quan, đơn vị xây dựng kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng phù hợp với chức trách, nhiệm vụ được giao; thể hiện quyết tâm, tinh thần đổi mới, chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của người đứng đầu.

Kết quả thực hiện chương trình hành động của tập thể, kế hoạch hành động của cá nhân là cơ sở quan trọng để kiểm điểm, tự phê bình, phê bình, đánh giá tập thể cấp uỷ, chính quyền, cơ quan, đơn vị và cá nhân người đứng đầu hằng năm và cả nhiệm kỳ.

Việc xây dựng chương trình, kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng phải hoàn thành ngay sau khi học tập, quán triệt Nghị quyết.

6- Công tác tuyên truyền về Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, cầnđược tiến hành sâu rộng, thường xuyên với nhiều hình thức đa dạng, phong phú, hấp dẫn và phù hợp với từng đối tượng; bảo đảm đông đảo các tầng lớp nhân dân và đồng bào ta ở nước ngoài đều được phổ biến, tuyên truyền về Nghị quyết Đại hội.

Các cơ quan báo chí, nhất là các đài truyền hình, phát thanh, báo điện tử cần tăng lượng tin, bài, mở các chuyên trang, chuyên mục như hỏi - đáp, trao đổi, toạ đàm, đối thoại… về Nghị quyết Đại hội XII của Đảng.

Phát huy, khai thác có hiệu quả các thiết chế văn hoá, thông tin hiện có, đẩy mạnh tuyên truyền miệng; đồng thời tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại trong tuyên truyền, phổ biến Nghị quyết Đại hội XII của Đảng.

7- Uỷ ban Kiểm tra Trung ương xây dựng kế hoạch kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng.

Văn phòng Trung ương Đảng hướng dẫn về kinh phí phục vụ việc học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội XII của Đảng.

8- Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng kế hoạch, ban hành hướng dẫn tổ chức các lớp học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội XII của Đảng cho các đối tượng: thường trực cấp uỷ, lãnh đạo các ban tuyên giáo, báo cáo viên nòng cốt của các cấp uỷ trực thuộc Trung ương; lãnh đạo các cơ quan báo chí, xuất bản; lãnh đạo các hội văn học, nghệ thuật, khoa học, kỹ thuật và văn nghệ sĩ, trí thức; giảng viên lý luận chính trị trong các học viện, trường đại học, cao đẳng. Hướng dẫn việc viết thu hoạch phù hợp với từng đối tượng. Thành lập Tổ Báo cáo viên Trung ương để trong trường hợp cần thiết hỗ trợ truyền đạt Nghị quyết cho cán bộ chủ chốt các tỉnh, thành phố và các đảng bộ trực thuộc Trung ương; chỉ đạo tuyên truyền phổ biến Nghị quyết Đại hội XII của Đảng; chủ trì, phối hợp với các ban Trung ương Đảng theo dõi, kiểm tra, đôn đốc và định kỳ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thưviệc tổ chức học tập, quán triệt, tuyên truyền, triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và việc thực hiện Chỉ thị này.

Chỉ thị này phổ biến đến chi bộ.

T/M BỘ CHÍNH TRỊ

TỔNG BÍ THƯ

Nguyễn Phú Trọng

(Đã ký)

Tập trung tuyên truyền cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIV và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021

Nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bầu cử; tạo sự thống nhất trong toàn Đảng, sự đồng thuận trong toàn xã hội, bảo đảm thực hiện thành công cuộc bầu cử; chủ động đấu tranh có hiệu quả với những âm mưu, hoạt động chống phá bầu cử, chống phá chế độ, cản trở sự nghiệp đổi mới đất nước của nhân dân ta.

Tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng về công tác bầu cử, bảo đảm phát huy dân chủ và sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng trong công tác cán bộ. Làm cho mọi công dân nắm vững quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm trong việc xây dựng nhà nước trong sạch, vững mạnh, có hiệu lực, hiệu quả, tham gia tự giác, tích cực, chủ động để cuộc bầu cử thực sự là ngày hội của toàn dân,  

Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền về bầu cử cần được tiến hành song song với lộ trình, bước đi của cuộc bầu cử (trước, trong và sau khi bầu cử), hỗ trợ đắc lực cho công tác triển khai bầu cử; góp phần cổ vũ tinh thần đoàn kết, chung sức chung lòng, tận dụng mọi thời cơ, thuận lợi, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững; tạo không khí thi đua yêu nước trong mọi tầng lớp nhân dân thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng.

Về nội dung tuyên truyền, cần tập trung vào một số nội dung sau:

Thứ nhất, tuyên truyền sâu rộng về mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021; phân tích, làm rõ bối cảnh, tình hình đất nước thời điểm diễn ra cuộc bầu cử, như: toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang tiếp tục thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển năm 2011); Đại hội lần thứ XII của Đảng vừa kết thúc, việc học tập, quán triệt và triển khai Nghị quyết Đại hội đang được tiến hành; Hiến pháp năm 2013 và các luật về tổ chức bộ máy nhà nước mới được ban hành; công cuộc đổi mới đạt được nhiều thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; những thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đặt ra khi chúng ta hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

Thứ hai, giới thiệu nội dung các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, như: Chỉ thị 51-CT/TW ngày 4/1/2016 của Bộ Chính trị, Chỉ thị 01/CT-TTg ngày 13/1/2016 của Thủ tướng Chính phủ; các văn bản chỉ đạo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng bầu cử quốc gia; kế hoạch, hướng dẫn tổ chức triển khai công tác bầu cử Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các cơ quan chức năng; các văn bản pháp luật, như: Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân….

Tiếp tục khẳng định quan điểm chỉ đạo của Đảng về bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp ở các kỳ bầu cử trước và tại Hội nghị lần thứ 12 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI). Đặc biệt làm rõ một số điểm mới trong Chỉ thị 51-CT/TW, đó là: (1) Giới thiệu những người tiêu biểu, có quan điểm, lập trường chính trị vững vàng, đủ tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật, có năng lực, điều kiện thực hiện nhiệm vụ đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân. (2) Không đưa vào danh sách ứng cử người có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực; có tư tưởng cục bộ, bảo thủ; đang bị thanh tra, kiểm tra dấu hiệu vi phạm; đã bị các cơ quan có thẩm quyền kết luận không trung thực; người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra những vụ, việc tham nhũng, lãng phí, mất đoàn kết nghiêm trọng. (3) Lãnh đạo bầu đủ số lượng đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, đặc biệt coi trọng chất lượng đại biểu (4) Giảm hợp lý số đại biểu công tác tại cơ quan hành chính, tăng số lượng đại biểu chuyên trách; bảo đảm tỷ lệ người ứng cử là phụ nữ, người dân tộc thiểu số theo đúng quy định của Luật Bầu cử (5) Bổ sung tỷ lệ hợp lý đại biểu đại diện các hiệp hội, nghiệp đoàn về các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh  (6) Phát huy quyền làm chủ của nhân dân không chỉ trong việc lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân mà còn trong công tác bầu cử.

Thứ ba, tuyên truyền đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; quyền và nghĩa vụ của công dân trong việc xây dựng bộ máy nhà nước nói chung và Quốc hội, Hội đồng nhân dân nói riêng; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức và hoạt động của Quốc hội, của Hội đồng nhân dân các cấp. Thành tựu của Quốc hội và Hội đồng nhân dân qua các thời kỳ, đặc biệt là những đổi mới của Quốc hội trong hoạt động lập pháp, giám sát và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, của Hội đồng nhân dân trong việc thực hiện trách nhiệm của cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương. Vai trò, trách nhiệm của Quốc hội khóa XIV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021 trong việc thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2016 - 2021 và Nghị quyết Đại hội lần thứXIIcủa Đảng.   

Thứ tư, giới thiệu những điểm mới trong công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân lần này, đó là những điều chỉnh, bổ sung cụ thể về bộ máy thực hiện công tác bầu cử từ Trung ương đến địa phương; quy định chặt chẽ hơn về trách nhiệm, quyền hạn và sự phối hợp của các cơ quan, đơn vị phụ trách bầu cử; quy trình đề cử, ứng cử; việc phân bổ người ứng cử đại biểu Quốc hội do Trung ương giới thiệu; việc thẩm định hồ sơ người tự ứng cử; việc tuyên truyền vận động bầu cử, giải quyết khiếu nại tố cáo….

Thứ năm, giới thiệu nội dung của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015; làm rõ những điểm mới được bổ sung cho phù hợp với Hiến pháp năm 2013 và tình hình mới, như: (1) Quy định quyền quyết định ngày bầu cử toàn quốc đối với cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội, bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, quyết định việc bầu cử bổ sung đại biểu Quốc hội trong thời gian giữa nhiệm kỳ, quyết định thành lập Hội đồng bầu cử quốc gia là thẩm quyền của Quốc hội thay vì Ủy ban Thường vụ Quốc hội như trước đây. Ngày bầu cử Quốc hội phải là ngày chủ nhật và được công bố chậm nhất trước 115 ngày thay vì 105 ngày như trước đây. Việc tăng thêm 10 ngày tạo điều kiện về thời gian để chuẩn bị và tiến hành các trình tự bầu cử được thuận lợi hơn, nhất là bảo đảm các bước trong quy trình hiệp thương được tốt hơn. (2) Quy định số lượng người dân tộc thiểu số được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội do Ủy ban Thường vụ Quốc hội dự kiến trên cơ sở đề nghị của Hội đồng dân tộc của Quốc hội, bảo đảm có ít nhất 18% tổng số người trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội là người dân tộc thiểu số. Số lượng phụ nữ được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội do Ủy ban Thường vụ Quốc hội dự kiến trên cơ sở đề nghị của Đoàn Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, bảo đảm có ít nhất 35% tổng số người trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội là phụ nữ. (3) Hội đồng bầu cử quốc gia do Quốc hội thành lập, có nhiệm vụ tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội; chỉ đạo, hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp (4) Những người đang bị tạm giam, những người đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc cũng sẽ được ghi tên vào danh sách cử tri để bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các tỉnh nơi người đó đang bị tạm giam, đang được giáo dục, cai nghiện bắt buộc,

Thứ sáu, tuyên truyền tiêu chuẩn người ứng cử đại biểu Quốc hội quy định tại Luật Tổ chức Quốc hội, tiêu chuẩn đại biểu Hội đồng nhân dân quy định tại Luật Tổ chức chính quyền địa phương; tiêu chuẩn cán bộ được quy định trong Chiến lược công tác cán bộ của Đảng. Khi tuyên truyền về quá trình chuẩn bị và tiến hành bầu cử, phải quán triệt thực hiện nghiêm túc chủ trương của Đảng về bố trí, sắp xếp đội ngũ cán bộ trong các cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa phương, gắn kết quả nhân sự đại hội đảng các cấp và quy hoạch cán bộ với công tác chuẩn bị nhân sự để giới thiệu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội dồng nhân dân các cấp.

Thứ bảy, tuyên truyền quyền bầu cử và ứng cử của công dân, nghĩa vụ, trách nhiệm của cử tri trong công tác bầu cử; các hoạt động trong quá trình tiếp xúc cử tri; các quy định về trình tự, thể thức bầu cử...

Thứ tám, tuyên truyền công tác chuẩn bị bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, điều kiện vật chất, kỹ thuật, tài chính bảo đảm thành công cho cuộc bầu cử; các phương án chủ động ứng phó với những tình huống thiên tai diễn ra trong thời gian tiến hành bầu cử. Kết quả giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các khiếu nại, tố cáo của công dân, ngăn chặn mọi hành vi lợi dụng dân chủ, vi phạm pháp luật về bầu cử. Đấu tranh chống mọi luận điệu xuyên tạc, những âm mưu, hành động phá hoại cuộc bầu cử, lợi dụng bầu cử để kích động, gây rối, chia rẽ nội bộ ta của các thế lực thù địch.

Thứ chín, phản ánh sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy và chính quyền các cấp về công tác bầu cử; quá trình diễn ra và kết quả bầu cử của các ngành, địa phương, khu vực, vùng, miền trên toàn quốc.

Thứ mười, tuyên truyền về sự tham gia tích cực, chủ động của nhân dân đối với cuộc bầu cử; kết quả phong trào thi đua lập thành tích chào mừng cuộc bầu cử, biểu dương kịp thời những đơn vị và cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác bầu cử, nhất là bầu cử ở nơi biên giới, hải đảo, các vùng còn nhiều khó khăn, các vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào tôn giáo.

Công tác tuyên truyền góp phần phản ánh không khí dân chủ, minh bạch, đúng pháp luật, các hoạt động tự giác của cử tri và nhân dân tham gia bầu cử ra nước ngoài và sự quan tâm, dư luận tích cực của thế giới đối với sự kiện này của đất nước.

Công tác tuyên truyền cần tập trung vào đối tượng các tầng lớp nhân dân; cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động; cán bộ, sỹ quan, chiến sỹ trong các lực lượng vũ trang nhân dân; tất cả các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong hệ thống chính trị; bắt đầu từ Hội nghị toàn quốc triển khai công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2016-2021 cho đến sau khi kết thúc bầu cử một tháng.

Hướng dẫn cũng nêu một số khẩu hiệu tuyên truyền như:

1. Nhiệt liệt chào mừng Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội Khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 !

2. Ngày 22-5-2016, cử tri cả nước đi bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021!

3. Cử tri cả nước tích cực tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021 !

4. Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân là quyền và nghĩa vụ của mỗi công dân !

5. Bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021 là ngày hội của toàn dân!

6. Sáng suốt lựa chọn những người tiêu biểu về đức, tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân bầu vào Quốc hội khóa XIV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021 !

7. Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp là trực tiếp góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân !

8. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thi đua lập thành tích chào mừng cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021!

9. Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm !

10. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam muôn năm !

11. Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta !

 
Dowload toàn văn Hướng dẫn tại đây
Giao Tuyến (nguồn: Tuyengiao.vn)

Góp ý sửa đổi, bổ sung Luật Thanh niên 2005

h

Sáng ngày 30/7, Ủy ban Quốc gia về Thanh niên Việt Nam đã tổ chức Hội thảo tham vấn chuyên gia về việc sửa đổi, bổ sung Luật Thanh niên 2005. Đồng chí Nguyễn Long Hải – Bí thư BCH Trung ương Đoàn, Phó Chủ nhiệm thường trực Ủy ban Quốc gia về Thanh niên Việt Nam đã chủ trì Hội thảo.

Tham dự Hội thảo còn có các nhà khoa học, nghà nghiên cứu; cùng đại diện Bộ Nội vụ, Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch, Đại học Luật Hà Nội; …
 
 
 
Đ/c Nguyễn Long Hải - Bí thư BCH Trung ương Đoàn, Phó Chủ nhiệm thường trực Ủy ban Quốc gia về Thanh niên Việt Nam phát biểu tại Hội thảo.
 
Theo Bí thư Trung ương Đoàn, Phó Chủ nhiệm thường trực Ủy ban Quốc gia về Thanh niên Việt Nam Nguyễn Long Hải, qua  9 năm thi hành Luật Thanh niên, đã bộc lộ những bất cập, thiếu tính khả thi về quyền và nghĩa vụ thanh niên, các hành vi bị nghiêm cấm... Hơn nữa, Hiến pháp năm 2013 đã có những quy định mới về thanh niên, về quyền và nghĩa vụ công dân; đồng thời nhiều quy định của pháp luật về lao động, giáo dục, nghĩa vụ quân sự, hình sự có liên quan nhiều đến thanh niên đã sửa đổi, bổ sung. Vì vậy, Luật Thanh niên cần được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung để tháo gỡ những bất cập đang hạn chế đến hiệu quả thi hành Luật. Việc sửa đổi này cũng nhằm thể chế hóa Hiến pháp 2013 và bổ sung, điều chỉnh các quy định để phù hợp, thống nhất với các luật khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
 
 
Tại Hội thảo, các chuyên gia, nhà khoa học cũng tập trung làm rõ các vấn đề về quan điểm về hướng tiếp cận sửa đổi, bổ sung Luật Thanh niên; bố cục của Luật Thanh niên sửa đổi; độ tuổi của thanh niên; quyền và nghĩa vụ của thanh niên; quản lý nhà nước về công tác thanh niên; cơ chế đảm bảo thi hành Luật Thanh niên; …
 
 
Về độ tuổi của thanh niên, TS Đỗ Ngọc Hà, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Thanh niên cho rằng quy định độ tuổi thanh niên từ 16-30 tuổi là phù hợp với đặc điểm, trình độ phát triển về tâm sinh lý, xã hội, văn hóa của các nhóm tuổi thanh niên. Theo TS Hà, việc xem xét phạm trù thanh niên không đơn thuần dừng lại ở các yếu tố độ tuổi, đặc điểm tâm sinh lý mà quan trọng là phải xét thanh niên ở tính chất xã hội từ mối quan hệ xã hội mà thanh niên làm chủ thể, chịu sự tác động và chi phối.
 
 
Cũng quan tâm đến quy định về độ tuổi của thanh niên, chuyên gia tư vấn về giới, Thạc sỹ Bùi Thị Phương nêu quan điểm, dù ở bất cứ quốc gia nào, việc quy định tuổi thanh niên đều phải dựa trên mục đích phát triển bền vững và lâu dài. Có thể thay đổi ranh giới về độ tuổi nếu thay đổi đó tạo ra những chuyển biến tích cực cho toàn xã hội. Tuy nhiên, nếu thay đổi không lường trước được những hệ quả sẽ tạo ra gánh nặng xã hội về nhiều mặt, tác động trực tiếp đến thanh niên.
 
 
 
Đ/c Lê Thanh Liêm - Phó Vụ trưởng Vụ pháp chế Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phát biểu ý kiến
 
 
Bàn về ý kiến độ tuổi thanh niên, Phó Vụ trưởng Vụ pháp chế Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lê Thanh Liêm cho rằng, Luật Thanh niên 2005 chỉ nêu độ tuổi từ 16 - 18 tuổi, vậy ở dự thảo lần này nên chăng cần đưa ra các khoảng độ tuổi như: 20 - 25, 25 - 30.
 
 
Lý giải lý do này, đồng chí Liêm cho rằng mỗi độ tuổi có một mong muốn khác nhau do đó luật cần có những quy định mang tính chất cụ thể để các ngành tham gia thi hành luật mới thiết thực, cụ thể.
 
 
GS.TS Trần Ngọc Đường, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội cho rằng quyền về kinh tế- xã hội mà Luật Thanh niên hiện hành chưa thể chế, cần được bổ sung trong dự án Luật Thanh niên đang soạn thảo. Đó là quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường, quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm, nơi làm việc... GS Trần Ngọc Đường cho rằng, các quyền và nghĩa vụ này là quyền kinh tế - xã hội có ý nghĩa thiết thực với mọi người, đặc biệt là thanh niên, vì vậy cần phải được thể chế.
 
 
Cũng tại Hội thảo, TS Hoàng Xuân Châu - Đại học Luật Hà Nội đã giới thiệu với Hội thảo về một số quốc gia trên thế giới có Luật Thanh niên với mục đích luôn được xác định và quy định rõ ngay trong những điều luật đầu tiên, làm cơ sở cho việc xây dựng và vận hành toàn bộ hệ thống chính sách cũng như cơ chế tổ chức thực hiện công tác thanh niên trong thực tiễn.
 
 
 
TS Hoàng Xuân Châu - Đại học Luật Hà Nội giới thiệu với Hội thảo về một số quốc gia trên thế giới có Luật Thanh niên
 
TS Hoàng Xuân Châu lấy ví dự như: Luật khung về thanh niên Hàn Quốc quy định hẳn một chương (chương VIII) về việc thành lập quỹ công tác thanh niên ở trung ương do Bộ Bình đẳng giới và Gia đình quản lý, lấy từ nhiều nguồn khác nhau trong đó có nguồn ngân sách, nguồn tài trợ của các tổ chức, cá nhân, lợi nhuận từ việc sử dụng quỹ... và thành lập các quỹ thanh niên ở địa phương. Hoạt động của các quỹ này cũng được quy định cụ thể trong Luật.
 
 
Bên cạnh đó, để đảm bảo thực thi, Luật Khung về Thanh niên của Hàn Quốc đã quy định chế tài hình sự áp dụng cho những trường hợp vi phạm Luật này. Luật đã dành hẳn một chương báo gồm 3 điều luật quy định chế tài hình sự áp dụng trong trường hợp cá nhân hoạt động vì lợi nhuận trong lĩnh vực thanh niên nhưng cố ý thực hiện những hoạt động không được phép (Điều 64). Hình phạt đối với hành vi này có thể là phạt tù có thời hạn không quá 2 năm kèm theo laođộng công ích hoặc phạt tiền không quá 20 triêu WON.
 
 
Trong trường hợp tổ chức nơi ngườiđó làm việc do quản lý lỏng lẻo đã để họ vi phạm thì sẽ phải liên đới chịu trách nhiệm hình sự  (Điều 65) với hình thức phạt tiền. Đáng chú ý là số tiền phạt sẽ được sử dụng làm nguồn quỹ thanh niên và Bộ trưởng Bình đẳng giới và Gia đình hoặc cơ quan địaphương được ủy quyền có trách nhiệm quản lý số tiền này.
 
 
 
Toàn cảnh Hội thảo
 
 
“Việt Nam hiện nay đang trong trong thời kỳ “dân số vàng” và có cơ hội lớn tận dụng dư lợi dân số để phát triển. Chính vì vậy về nguyên tắc, Luật Thanh niên phải nhằm mục đích tạo ra và phát huy những điều kiện tốt nhất cho sự phát triển cá nhân và sự đóng góp xã hội của thanh niên. Đây là vấn đề quan trọng cần được nhà làm luật xác định rõ ràng và quy định rõ ngay trong luật, làm định hướng triển khai các chế định tiếp theo của Luật Thanh niên cũngnhư cho các chủ thể tham gia công tác thanh niên trên thực tiễn”, TS Châu nói.
 
 
Các ý kiến từ Hội thảo là cơ sở quan trọng để Ủy ban Quốc gia về Thanh niên Việt Nam tổng hợp nghiên cứu, phối hợp với Bộ Nội vụ cùng các cơ quan liên quan vào báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong quá trình sửa đổi, bổ sung Luật Thanh niên 2005./.

Tư duy đổi mới bắt nguồn từ thực tiễn

1. Bám sát và tổng kết thực tiễnĐiểm nổi bật trong phong cách Nguyễn Văn Linh là đồng chí rất chú trọng tổng kết thực tiễn. Không những thế, đồng chí còn “truyền lửa” phong cách này tới mọi người, thường nhắc nhở cán bộ phải đi vào cuộc sống, tổng kết thực tiễn để không ngừng hoàn chỉnh chủ trương, đường lối đã đề ra. Trước mỗi sự vật, hiện tượng mới của đời sống, đồng chí thường xuống tận cơ sở để tìm hiểu, trực tiếp gặp gỡ cán bộ và quần chúng, khơi gợi anh em phát biểu, tranh luận, đề xuất. Đồng chí bình tĩnh lắng nghe, nhất là những ý kiến khác với chủ kiến của mình, cân nhắc và cho ý kiến giải quyết một cách thận trọng, vừa có lý luận vừa có thực tế. Đồng chí Nguyễn Văn Linh từng nhấn mạnh: "Thực tế đã chứng minh rằng, trong cuộc đấu tranh giằng co giữa cái mới và cái cũ, giữa tiến bộ và lạc hậu, những cái phù hợp quy luật, có sức sống thường xuất hiện ở cơ sở, ở những nơi khó khăn, phức tạp nhất”(1).Là Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh, “đứng mũi chịu sào” ở một địa bàn hoạt động kinh tế năng động, bằng kinh nghiệm của mình trong quản lý điều hành và qua nghiên cứu, khảo sát thực tế, đồng chí Nguyễn Văn Linh đã nhận thấy một số chính sách và cơ chế quản lý kinh tế khi đó đã lỗi thời, nhưng chậm được sửa đổi, làm sản xuất bị đình trệ, giảm sút nhiệt tình lao động của quần chúng, tạo khe hở để phát sinh nhiều hiện tượng tiêu cực..Từ năm 1979, trên địa bàn TP Hồ Chí Minh đã xuất hiện một số mô hình “bung ra”, đổi mới sản xuất và kinh doanh, như các xí nghiệp dệt: Thành Công, Phong Phú, Phước Long, Thắng Lợi, Dệt đay 13; Xí nghiệp Cơ khí Caric, Silico, Vinapopro, Sinco, Công ty Bột giặt Miền Nam, Xí nghiệp Dược phẩm 2-9, Xí nghiệp Dược thú y, Nhà máy Bia Sài Gòn, Xí nghiệp Thuốc lá... Những mô hình mới này đã áp dụng chế độ lương khoán sản phẩm, tự tìm cách tháo gỡ khó khăn về vật tư, nguyên liệu, tiêu thụ sản phẩm và đã làm ăn có lãi. Đồng chí Nguyễn Văn Linh ủng hộ những mô hình tiên tiến này. Sau khi nắm bắt tình hình, đồng chí quyết định chọn xây dựng mô hình thí điểm là Xí nghiệp Dệt Thành Công và giao cho Ban Công nghiệp Thành ủy, các chuyên viên giúp việc cùng với Ban giám đốc xí nghiệp để tổng kết các bài học kinh nghiệm. Từ mô hình này, Thành ủy và lãnh đạo Thành phố đã tập trung chỉ đạo để nhân rộng. Đồng chí Nguyễn Văn Linh trực tiếp cho ý kiến: Chỉ có một Thành Công không đủ mà phải cả trăm, nghìn cơ sở Thành phố tiến mạnh vào mục tiêu chống quan liêu bao cấp, tháo gỡ để sản xuất bung ra, hiệu quả kinh tế tăng lên; đồng vốn, tay nghề của người thợ, của tiểu chủ Thành phố phải được huy động, công nhân phải có việc làm.Trong nhiều phiên họp Thành ủy và chính quyền Thành phố, đồng chí Nguyễn Văn Linh đề nghị cần mở rộng cơ chế tự chủ ra nhiều xí nghiệp, nhiều loại hình sở hữu khác nhau. Được “bật đèn xanh”, một số cơ sở sản xuất không thuộc diện thí điểm, nhưng vẫn tự bàn bạc, lập đề án đổi mới cơ chế quản lý và sản xuất, rồi đề đạt nguyện vọng của mình, xin ý kiến các cấp có thẩm quyền. Cuộc đấu tranh giữa tâm lý bảo thủ, cách làm trì trệ với sự đổi mới, năng động trong cả cách nghĩ và cách làm diễn ra khá gay gắt, thậm chí nhiều sáng kiến bị ngộ nhận, “không được hoan nghênh”. Tuy nhiên, đồng chí Bí thư Thành ủy thường động viên anh em ở cơ sở cứ yên tâm mà làm, “anh em công nhân sẽ làm chứng cho các đồng chí về những việc làm tốt và giúp các đồng chí khắc phục những việc làm chưa tốt”(2).Sau khi tập hợp nguyện vọng, nghiên cứu, thảo luận trong Thường vụ Thành ủy và chính quyền Thành phố, Bí thư Thành ủy Nguyễn Văn Linh đã đồng ý lập một hình thức sinh hoạt diễn đàn gọi là “Câu lạc bộ giám đốc” và cử đồng chí Trưởng ban Công nghiệp Thành ủy làm chủ nhiệm. Ngay buổi sinh hoạt đầu tiên của “Câu lạc bộ giám đốc”, đã có 80 giám đốc các cơ sở sản xuất tham dự để nghe Giám đốc Xí nghiệp Dệt Thành Công báo cáo tổng kết kinh nghiệm và cùng thảo luận, rút ra những bài học về quản lý, tổ chức sản xuất. Đồng chí Bí thư Thành ủy Nguyễn Văn Linh rất quan tâm theo dõi và dự nhiều buổi sinh hoạt của câu lạc bộ. Cho đến khi đồng chí được điều về công tác tại Trung ương Đảng (tháng 6-1986), “Câu lạc bộ giám đốc” đã có hơn 20 buổi sinh hoạt với những nội dung bổ ích, phong phú.Nhờ sự chỉ đạo năng động và sáng tạo của Thành ủy và chính quyền Thành phố, sau thời gian ngắn, nền kinh tế của TP Hồ Chí Minh có những bước chuyển lớn mang tính đột phá. Hàng chục nghìn cơ sở sản xuất nhỏ và sản xuất gia đình trước đó bị đình trệ đã được khôi phục và hoạt động trở lại. Một số mô hình công tư hợp doanh mới được thử nghiệm. Hiệu quả thực tế từ TP Hồ Chí Minh đã giúp Trung ương Đảng và Bộ Chính trị, đứng đầu là Tổng Bí thư Trường Chinh càng thêm quyết tâm xóa bỏ cơ chế cũ, dứt khoát thực hiện cơ chế mới, mở ra bước ngoặt đổi mới. Trong thành công đó có phần đóng góp tích cực, hiệu quả của đồng chí Nguyễn Văn Linh trên cương vị Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh. Từ những bài học thành công ở TP Hồ Chí Minh, Đảng ta đã có những kinh nghiệm để mở rộng công cuộc Đổi mới ra cả nước.2. “Đổi mới để tiến lên”Kỷ niệm 10 năm TP Hồ Chí Minh được giải phóng, Bộ Chính trị Trung ương Đảng giao cho đồng chí Nguyễn Văn Linh tổng kết những kinh nghiệm tháo gỡ khó khăn, đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, kiên quyết chuyển sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, giải phóng sức sản xuất, tạo ra động lực thúc đẩy kinh tế sản xuất hàng hóa phát triển. Những cách làm mới của TP Hồ Chí Minh và một số tỉnh như Long An, Vĩnh Phú, cùng với những nhận định, đánh giá của Trung ương về tình hình đất nước, sau này đã được đồng chí Nguyễn Văn Linh tổng kết, vận dụng vào việc chuẩn bị Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VI-đại hội khởi xướng công cuộc Đổi mới mà đồng chí là một trong những người đóng góp nhiều công sức.Đổi mới thực chất là một cuộc cách mạng. Cuộc đấu tranh giữa cái cũ và cái mới bao giờ cũng là một cuộc đấu tranh phức tạp, gian khổ. Trí tuệ của một nhà lãnh đạo xuất sắc thể hiện ở chỗ dự cảm được bước đi tất yếu của lịch sử. Nhưng muốn dẫn dắt cuộc đấu tranh cho cái mới đi tới thắng lợi, ngoài sự nhạy cảm và tư duy mới, còn cần phải có bản lĩnh dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, vừa bám sát, trung thành với đường lối của Đảng, vừa sâu sát, gắn bó với quần chúng, tổng kết cách nghĩ, cách làm của quần chúng, rút ra kinh nghiệm rồi nâng lên thành lý luận để trở lại chỉ đạo thực tiễn. Là một cán bộ cách mạng được tôi luyện và trưởng thành qua các giai đoạn đấu tranh gian khổ, đồng chí Nguyễn Văn Linh đã đáp ứng được những yêu cầu đó của lịch sử.Đồng chí Nguyễn Văn Linh là một trong những người có công đầu trong việc tìm tòi, khai phá con đường Đổi mới ở Việt Nam. Với những cống hiến tích cực đó, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12-1986), đồng chí được bầu là Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, nhận trách nhiệm lãnh đạo cao nhất, tổ chức thực hiện đường lối Đổi mới của Đảng, đưa đất nước chuyển sang một thời kỳ mới: Thời kỳ “Đổi mới để tiến lên”(3).

NGÔ VƯƠNG ANH
(Nguồn: QĐND)................(1) Nguyễn Văn Linh: Thành phố Hồ Chí Minh 10 năm, NXB Sự thật, Hà Nội, 1987, tr.104, 105(2) Nguyễn Văn Linh: Hành trình cùng lịch sử, NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh 1991, tr.160(3) Tên một tác phẩm của đồng chí Nguyễn Văn Linh

Đề cương tuyên truyền 125 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh

ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN

KỶ NIỆM 125 NĂM NGÀY SINH CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

(19/5/1890 - 19/5/2015)

I. Khái quát về thân thế và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh

1. Giai đoạn 1890-1911

Chủ tịch Hồ Chí Minh (lúc nhỏ tên là Nguyễn Sinh Cung) sinh ngày 19/5/1890 trong một gia đình nhà nho yêu nước, tại làng Hoàng Trù (còn gọi là Làng Chùa), xã Chung Cự, tổng Lâm Thịnh, nay thuộc xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Thân phụ là Nguyễn Sinh Sắc, thân mẫu là Hoàng Thị Loan.

Từ lúc sinh ra đến 5 tuổi, Nguyễn Sinh Cung sống trong sự chăm sóc đầy tình thương yêu của gia đình, đặc biệt là ông bà ngoại. Năm 1895, Nguyễn Sinh Cung theo gia đình vào sống ở Huế. Đầu năm 1901, sau khi thân mẫu qua đời, Nguyễn Sinh Cung lại theo cha trở về Nghệ An, rồi lấy tên là Nguyễn Tất Thành, tích cực học chữ Hán và còn theo cha đi một số nơi, học thêm nhiều điều. Năm 1906, Nguyễn Tất Thành lại theo cha vào Huế, thoạt đầu học trường Pháp – Việt, sau học trường Quốc học Huế. Khoảng cuối năm 1909, Nguyễn Tất Thành theo cha vào Bình Định, tháng 8/1910 vào Phan Thiết, làm giáo viên trường Dục Thanh. Tháng 2/1911, Nguyễn Tất Thành vào Sài Gòn. Ngày 5/6/1911 với tên gọi mới là Văn Ba, lên tàu Amiran Latusơ Tơrêvin, rời bến cảng Nhà Rồng đi Mácxây (Pháp).

2. Giai đoạn 1911-1920

Tại Mácxây, ngày 15/9/1911, Người viết thư gửi Bộ trưởng thuộc địa Pháp, ký tên Nguyễn Tất Thành, xin vào học trường thuộc địa nhưng đã bị từ chối. Từ năm 1912, Nguyễn Tất Thành đi qua một số nước châu Phi, châu Mỹ. Giữa năm 1913, Người đến nước Anh, tham gia nhiều hoạt động ở đây cho đến giữa năm 1917 mới trở lại nước Pháp.

Đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành tham gia Đảng xã hội Pháp, tháng 6/1919 thay mặt những người Việt Nam yêu nước gửi bản yêu sách gồm 8 điểm (ký tên Nguyễn Ái Quốc) tới Hội nghị các nước đế quốc họp ở Véc-xây (nước Pháp), đòi chính phủ các nước họp Hội nghị phải thừa nhận các quyền tự do, dân chủ và quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam. Tháng 7/1920, Nguyễn Ái Quốc đọc được “Sơ thảo lần thứ nhất luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của Lênin. Tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp tháng 12/1920, Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành Quốc tế III và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp, trở thành người Cộng sản đầu tiên của Việt Nam.

  1. Giai đoạn 1921-1930
  2. Giai đoạn 1930-1945
  3. Giai đoạn 1945-1954
  4. Giai đoạn 1954-1969

Từ năm 1921 đến tháng 6/1923, Nguyễn Ái Quốc triển khai nhiều hoạt động tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa, dự Đại hội lần thứ I và lần thứ II của Đảng Cộng sản Pháp, sinh hoạt trong Câu lạc bộ Phoobua, làm Chủ nhiệm kiêm chủ bút Báo Người cùng khổ

Ngày 13/6/1923, Người rời nước Pháp đi Đức và ngày 22/6/1923 đi Liên Xô. Từ tháng 7/1923 đến tháng 10/1924, Nguyễn Ái Quốc tích cực hoạt động trong phong trào cộng sản quốc tế, bổ sung và phát triển lý luận về cách mạng thuộc địa. Người hoạt động trong Quốc tế Nông dân; học tập tại trường Đại học Phương Đông; tham gia Đại hội lần thứ V Quốc tế Cộng sản và được chỉ định là Ủy viên Thường trực Bộ Phương Đông, trực tiếp phụ trách Cục phương Nam; tham dự Đại hội II Quốc tế Công hội đỏ, Đại hội Quốc tế Cộng sản Thanh niên; tiếp tục viết nhiều sách báo tuyên truyền cách mạng, hoàn thành tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp…

Từ khi rời Liên Xô về Quảng Châu (Trung Quốc) tháng 11/1924 đến tháng 2/1930, Nguyễn Ái Quốc tích cực hoạt động, chuẩn bị các điều kiện tiến tới thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Người thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (tháng 6/1925), mở các lớp huấn luyện cán bộ, xuất bản Báo Thanh niên (1925) và tác phẩm Đường Cách mệnh (1927). Hè năm 1927, khi tình hình cách mạng Trung Quốc có nhiều biến động phức tạp, Nguyễn Ái Quốc lại đi Liên Xô, sau đó đi Đức (tháng 11/1927) rồi bí mật sang Pháp, đến nước Bỉ dự cuộc họp của Đại hội đồng liên đoàn chống đến quốc (tháng 12/1927), rồi quay lại Đức, đi Thụy Sỹ, sang Italia. Tháng 7/1928, Nguyễn Ái Quốc tới Xiêm (Thái Lan), rồi trở lại Trung Quốc vào cuối năm 1929. Từ ngày 6/1 đến ngày 7/2/1930 tại Hương Cảng, Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Từ năm 1930 đến năm 1941, tuy hoạt động ở nước ngoài nhưng Nguyễn Ái Quốc vẫn chỉ đạo sát sao phong trào cách mạng trong nước. Trong khoảng thời gian ấy, Người có lúc ở Liên Xô, Trung Quốc, từng bị kẻ thù bắt giam ở Hồng Kông. Cuối năm 1932, Người được trả tự do, sau đó đến Liên Xô học tại trường Quốc tế Lênin. Năm 1938, Người trở về Trung Quốc chủ yếu hoạt động ở vùng Quảng Tây cho đến năm 1941 thì về nước trực tiếp chỉ đạo cách mạng Việt Nam. Người triệu tập Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng, xác định đường lối đấu tranh giải phóng dân tộc, chỉ đạo thành lập Mặt trận Việt Minh, sáng lập Báo Việt Nam độc lập, tổ chức lực lượng vũ trang, xây dựng căn cứ địa cách mạng, lãnh đạo nhân dân làm nên thắng lợi Cách mạng tháng Tám năm 1945.

Ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình, Người đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Những năm 1945-1946, Người cùng Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân xây dựng và bảo vệ chính quyền non trẻ, đối phó với thù trong, giặc ngoài, đưa cách mạng Việt Nam vượt qua tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”; tổ chức Tổng tuyển cử trong cả nước, bầu Quốc hội và thông qua Hiến pháp dân chủ đầu tiên của Việt Nam. Quốc hội khóa I (1946) đã bầu Người làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Tại Đại hội lần thứ II của Đảng (1951), Người được bầu làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam đã giành thắng lợi vẻ vang trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, kết thúc bằng Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, đưa miền Bắc đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Miền Bắc được giải phóng, nhưng đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai thực hiện âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta, biến nơi đây thành thuộc địa kiểu mới. Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch tiếp tục lãnh đạo nhân dân thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Đại hội lần thứ III của Đảng năm 1960 đã bầu lại Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Quốc hội khóa II, khóa III bầu Người làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Cùng với Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra đường lối đúng đắn, lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, công cuộc cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc thắng lợi; đặt nền móng và không ngừng vun đắp tình hữu nghị giữa dân tộc Việt Nam với các dân tộc khác trên thế giới, giữa Đảng Cộng sản Việt Nam với các Đảng Cộng sản và phong trào công nhân quốc tế.

Ngày 2/9/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, để lại muôn vàn thương tiếc cho toàn Đảng, dân tộc Việt Nam và nhân dân thế giới. Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là tấm gương sáng ngời cho chúng ta học tập. Tên tuổi của Người đã đi vào lịch sử cách mạng thế giới như là người khởi xướng cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của các nước thuộc địa trong thế kỉ XX. Năm 1990, tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp quốc (UNESCO) đã tôn vinh Người danh hiệu: Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân Văn hóa thế giới.

II. Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân Văn hóa thế giới

1.Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế

Giữa lúc phong trào cách mạng Việt Nam bế tắc về đường lối và tổ chức lãnh đạo, Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra con đường cách mạng vô sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam đã gắn kết thành một khối, phát huy cao độ sức mạnh toàn dân tộc, làm nên thắng lợi Cách mạng tháng Tám năm 1945, lật đổ chế độ thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Trong bản Tuyên ngôn độc lập đọc ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng tuyên bố trước đồng bào quốc dân và toàn thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do độc lập”.

Ngay sau khi giành độc lập, chính quyền  cách mạng non trẻ của ta đứng trước tình thế vô cùng khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng toàn Đảng sáng suốt đề ra đường lối đúng đắn, chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua thác ghềnh, bảo vệ Đảng và giữ vững chính quyền cách mạng. Tiếp đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng toàn Đảng xây dựng đường lối “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”, lãnh đạo nhân dân phát huy cao độ lòng yêu nước, khí phách anh hùng, đánh thắng chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, xây dựng và bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, hoàn thành sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng cao đẹp của chủ nghĩa yêu nước chân chính kết hợp nhuần nhuyễn với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Ngay từ khi đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, ánh sáng chân lý của thời đại, tấm lòng của Người luôn hướng về nhân dân các dân tộc bị áp bức, chiến đấu không mệt mỏi vì hòa bình, độc lập, tự do, hạnh phúc. Người đã hết lòng, hết sức xây dựng sự đoàn kết nhất trí giữa các Đảng Cộng sản anh em trên cơ sở chủ nghĩa Mác-Lênin và tinh thần quốc tế vô sản trong sáng, không ngừng vun đắp quan hệ gắn bó, hữu nghị giữa các dân tộc Đông Dương, các nước láng giềng, cống hiến xuất sắc cả về lý luận và thực tiễn cho phong trào cộng sản và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một chiến sĩ quốc tế lỗi lạc, kiên cường, trong sáng, suốt đời chiến đấu cho hòa bình, độc lập, tự do, hạnh phúc và tiến bộ xã hội.

Đi theo con đường Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn, thực hiện Di chúc thiêng liêng của Người, Đảng ta kiên định những quan điểm có tính nguyên tắc, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trước yêu cầu mới; kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, lãnh đạo nhân dân tiến hành sự nghiệp đổi mới đất nước, tích cực hội nhập quốc tế. Trong công cuộc đổi mới, Đảng ta đặc biệt coi trọng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, không ngừng đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lợi thuộc về nhân dân. Đổi mới vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của nhân dân, xuất phát từ thực tiễn, nhạy bén với cái mới, phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ ngoại lực, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.

Sau gần 30 năm đổi mới, đất nước ta đã có sự thay đổi cơ bản và toàn diện, giành được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử, càng chứng tỏ đường lối lãnh đạo của Đảng rất đúng đắn và sáng tạo, phù hợp với thực tiến Việt Nam. Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã dẫn dắt toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thử thách tiến lên giành những thắng lợi vẻ vang trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và công cuộc đổi mới đất nước, hội nhập quốc tế.

2. Chủ tịch Hồ Chí Minh – Danh nhân văn hóa thế giới

Sự tôn vinh của UNESCO đã khẳng định những đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho dân tộc Việt Nam và cho thế giới. Văn hóa Hồ Chí Minh là sự kết tinh tinh hoa văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại, đồng thời Người không ngừng sáng tạo văn hóa. Văn hóa Hồ Chí Minh được hình thành trong cái nôi văn hóa dân tộc, nhất là trong quá trình Người đi tìm đường cứu nước và lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Quá trình này nằm trong bối cảnh văn hóa Việt Nam có sự giao lưu, tiếp biến với văn hóa nhân loại.

Sự nghiệp văn hóa lớn nhất, quan trọng nhất của Hồ Chí Minh là đã tìm được con đường cứu nước đúng đắn và lãnh đạo thành công sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do cho đất nước, hạnh phúc cho nhân dân. Sự nghiệp giải phóng dân tộc do Hồ Chí Minh lãnh đạo đã đem lại địa vị xứng đáng cho văn hóa dân tộc Việt Nam. Không chỉ vậy, sự nghiệp này còn có ý nghĩa to lớn đối với nền văn hóa thế giới, đã chỉ ra cho nhân dân các nước thuộc địa con đường đứng lên đập tan xiềng xích nô lệ, giành độc lập, tự do cho đất nước mình, từ đó góp phần vào việc xóa bỏ chế độ thuộc địa trên thế giới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với tư cách là danh nhân văn hóa thế giới đã góp phần không chỉ tạo ra một chế độ mới, một thời đại mới mà còn tạo ra một nền văn hóa mới trong lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam, góp phần to lớn vào sự phát triển chung của văn hóa nhân loại. Nhà thơ Xô viết Ôxip Mandextam đã viết: “Từ Nguyễn Ái Quốc tỏa ra một nền văn hóa, không phải văn hóa châu Âu, mà có lẽ là một nền văn hóa của tương lai… Qua cử chỉ cao thượng, tiếng nói trầm lắng của Nguyễn Ái Quốc, tôi như thấy được ngày mai, như thấy được viễn cảnh trời yên bể lặng của tình hữu ái toàn thế giới bao la như đại dương”.

Thông qua những năm tháng hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh đã tiếp thu tinh hoa văn hóa phương Tây gắn kết với tinh hoa văn hóa phương Đông, trong đó đặc biệt là những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin cùng những giá trị tiến bộ của văn hóa Nho giáo, Phật giáo…, phát triển những giá trị văn hóa mới – văn hóa Hồ Chí Minh. Đóng góp của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hóa không chỉ ở phương diện lý luận mà còn tỏa sáng trong mỗi việc làm, từng cử chỉ, từng mối quan hệ với đồng bào, đồng chí và bạn bè quốc tế. Cái cốt lõi trong tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh là lòng yêu nước, thương dân, thương yêu con người, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Người đề cao lý tưởng cứu nước, cứu dân, “Tổ quốc trên hết”, “Dân tộc trên hết”, “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Hồ Chí Minh quan niệm: ở đời và làm người là phải thương nước, thương dân, thương nhân loại đau khổ bị áp bức. Việc gì có lợi cho dân thì phải làm cho kỳ được. Việc gì hại cho dân thì phải hết sức tránh. Đó là nhân sinh quan, triết lý sống rất nhân văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Cả cuộc đời hoạt động cách mạng, Người đã chiến đấu chống áp bức, bất công, đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, cho dân tộc và còn mưu cầu hạnh phúc cho nhân loại. Người đã hiến dâng cả cuộc đời cho dân tộc, cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Trong những giá trị trường tồn, có di sản tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh, đó là: về chủ nghĩa yêu nước; về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; về nhà nước xã hội của dân, do dân, vì dân; về xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh; về đại đoàn kết toàn dân tộc; về đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư…

Với những cống hiến xuất sắc cho dân tộc và cho nhân loại tiến bộ, năm 1990, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp quốc (UNESCO) ra Nghị quyết 24C/1865 về Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh với tư cách là Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới. Nghị quyết khẳng định Chủ tịch Hồ Chí Minh là một biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc trên thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Những đóng góp quan trọng và nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật chính là sự kết tinh truyền thống văn hóa hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam. Những tư tưởng của Người là hiện thân cho những khát vọng của các dân tộc có mong muốn được khẳng định bản sắc văn hóa của mình và tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau… Đại hội đồng UNESCO đã khuyến nghị các nước thành viên “cùng tham gia kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bằng việc tổ chức các hoạt động cụ thể để tưởng niệm Người, qua đó làm cho mọi người hiểu rõ tầm vóc vĩ đại của tư tưởng và những cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của Người”.

III. Tiếp tục thực hiện tư tưởng, đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn cách mạng mới

1.Kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng của Đảng

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập, rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam và trực tiếp lãnh đạo cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Người đã để lại tài sản văn hóa tinh thần to lớn cho dân tộc Việt Nam và thế giới, đó là tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh. Khi bàn về chủ nghĩa Mác-Lênin, Người khẳng định: “Cách mạng Việt Nam trước hết phải có đảng cách mệnh để trong thì vận động dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững thì cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt. Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, những chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”.

Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã cùng Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta. Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành nền tảng tư tưởng của Đảng, soi đường cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam giành thắng lợi to lớn. Nước ta từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến, nghèo nàn, lạc hậu, đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, thoát khỏi tình trạng nước kém phát triển, vững bước đi lên con đường xã hội chủ nghĩa, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội, đang phát huy mọi tiềm năng, trí tuệ, vững bước dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng, tiến hành công cuộc đổi mới, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, xây dựng nước ta trở thành nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Đảng ta kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy đó làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, làm cơ sở quy tụ, xây dựng và phát huy sức mạnh đoàn kết trong Đảng, đoàn kết toàn dân tộc. Trong bất kỳ điều kiện và tình huống nào, chúng ta cũng cần phải kiên trì thực hiện đường lối và mục tiêu đổi mới, kiên định và vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

2. Tích cực thực hiện có hiệu quả Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI), tổ chức thành công đại hội Đảng bộ các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng

Cấp ủy đảng các cấp tiếp tục quán triệt sâu sắc mục đích, ý nghĩa, nội dung học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo tinh thần Chỉ thị số 03-CT/TW, ngày 14/5/2011 của Bộ Chính trị. Tập trung giới thiệu nội dung Chuyên đề thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW trong năm 2015: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về trung thực, trách nhiệm; gắn bó với nhân dân; đoàn kết, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh”. Quan tâm chỉ đạo để việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trở thành nhiệm vụ thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của mỗi cơ quan, đơn vị, mỗi cán bộ, đảng viên, đoàn viên, thanh niên, tạo thành phong trào học tập sâu rộng trong Đảng, trong toàn xã hội. Chú trọng phát hiện, nêu gương các tập thể, cá nhân gương mẫu trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Triển khai nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) ngày 16/1/2012 “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”. Rà soát việc triển khai, thực hiện các biện pháp sửa chữa, khắc phục khuyết điểm của các cấp ủy đảng và đảng viên, kiểm điểm, tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI). Biểu dương các tổ chức, cá nhân có chuyển biến tích cực; thẳng thắn phê bình các tổ chức, cá nhân còn trì trệ, chưa thực hiện đúng tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI), gây hậu quả xấu trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị. Trước mắt, toàn Đảng tập trung chuẩn bị, triển khai tốt đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng theo tinh thần Chỉ thị số 36-CT/TW, ngày 30/05/2014 của Bộ Chính trị. Đây là đợt sinh hoạt chính trị có ý nghĩa quan trọng trong toàn Đảng. Mỗi cấp ủy Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên cần phát huy cao độ tinh thần trách nhiệm, tích cực đóng góp ý kiến, tham gia xây dựng các văn kiện, góp phần tổ chức thành công đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng.

IV. Một số khẩu hiệu tuyên truyền kỷ niệm 125 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh

-Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng!

-Nhiệt liệt chào mừng 125 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại (19/5/1890 – 19/5/2015)!

-          Tích cực học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh!

-          Sống, chiến đấu, lao động, học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại!

-Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân Văn hóa thế giới!

-          Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm!

-          Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam muôn năm!

-          Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta!

                                                BAN TUYÊN GIÁO TRUNG ƯƠNG

Đề cương tuyên truyền 40 năm Ngày giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước

ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN

Kỷ niệm 40 năm ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

(30/4/1975 - 30/4/2015)

_____

1. Bối cảnh quốc tế và trong nước:

- Sau chiến tranh thế giới thứ hai, đế quốc Mỹ với vị trí một nước trong phe thắng trận, ít bị thiệt hại trong chiến tranh đã có tiềm lực rất mạnh, hiếu chiến và âm mưu bá chủ thế giới. Sau thất bại ở Điện Biên Phủ, Pháp buộc phải ngồi vào bàn đàm phán tại Giơ-ne-vơ ký Hiệp định về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam, chủ nghĩa thực dân cũ sụp đổ Mỹ chính thức nhảy vào miền Nam Việt Nam, áp đặt chủ nghĩa thực dân kiểu mới, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta. Lúc này hai hệ thống tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa đối đầu gay gắt bằng cuộc chiến tranh lạnh và chạy đua vũ trang quyết liệt. Hệ thống xã hội chủ nghĩa, phong trào công nhân ở các nước tư bản, phong trào giải phóng dân tộc của các nước thuộc địa trên thế giới dâng cao. Việt Nam trở thành tiêu điểm hội tụ những mâu thuẫn của thời đại.

- Trong nước, sau chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp, miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam vẫn dưới ách thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai. Nhiệm vụ tranh đấu giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc trở thành yêu cầu thiêng liêng, nhiệm vụ chính của toàn dân tộc.

2. Những bước phát triển của cuộc kháng chiến:

- Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Nhân dân ta đã trải qua gần 21 năm, là cuộc chiến tranh cứu nước ác liệt và phức tạp nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Có thể phân kỳ thành năm giai đoạn chiến lược, làm chuyển biến về tương quan lực lượng, cục diện chiến tranh để tạo nên bước nhảy vọt lớn tạo thời cơ để cách mạng Việt Nam đi đến giành thắng lợi hoàn toàn.

a. Giai đoạn thứ nhất từ tháng 7 năm 1954 đến hết năm 1960: Đảng lãnh đạo cuộc đấu tranh giữ gìn lực lượng, chuyển dần sang thế tiến công, làm thất bại bước đầu phương thức chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ.

- Tháng 7 năm 1954, tại Hội nghị ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam được diễn ra, với dã tâm từ trước, Mỹ là một trong những nước dự hội nghị, đã không ký tuyên bố cuối cùng của hội nghị “Thừa nhận về nguyên tắc độc lập, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam”. Mỹ nhanh chóng xúc tiến kế hoạch xâm nhập miền Nam nước ta để thay thế thực dân Pháp, thực chất là xâm chiếm miền Nam bằng chính sách thực dân mới. Mỹ dựng lên chính phủ bù nhìn Ngô Đình Diệm ở miền Nam với âm mưu tiêu diệt bằng được phong trào yêu nước và cách mạng của Nhân dân ta, chia cắt lâu dài đất nước ta, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới, căn cứ quân sự của Mỹ, làm bàn đạp tấn công miền Bắc và các nước xã hội chủ nghĩa.

- Đánh giá đúng bản chất, âm mưu xâm lược của đế quốc Mỹ, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 6 (tháng 7 năm 1954) chỉ rõ “Đế quốc Mỹ là kẻ thù chính của nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới và hiện đang trở thành kẻ thù chính, trực tiếp của nhân dân Đông Dương”. Đảng ta luôn nhất quán tinh thần chỉ đạo tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng: Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Miền Bắc nhanh chóng tổ chức cuộc sống mới, trong ba năm (1958 - 1960), ta đã hoàn thành về cơ bản công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, bước đầu xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội theo con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, chuẩn bị về quân sự cho cách mạng cả nước giai đoạn mới. Ở miền Nam, cuộc đấu tranh diễn ra vô cùng khó khăn, ác liệt, Mỹ - Diệm lê máy chém đi khủng bố khắp miền Nam, thi hành chính sách “Tố cộng, diệt cộng” để tiêu diệt phong trào cách mạng, nhưng đại bộ phận Nhân dân vẫn một lòng theo Đảng, bất khuất chống áp bức, khủng bố, bảo vệ lực lượng cách mạng. 

-Hội nghị Trung ương lần thứ 15 (tháng 01 năm 1959) đã xác định con đườngtiến lên của cách mạng miền Nam và chỉ rõ mục tiêu, phương pháp cách mạng miền Nam, mối quan hệ giữa hai chiến lược cách mạng ở hai miền Nam - Bắc, giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới, nhằm giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà. Nghị quyết số 15-NQ/TW của Trung ương đã phản ánh đúng nhu cầu lịch sử, giải quyết kịp thời yêu cầu phát triển của cách mạng miền Nam trong tình thế thực sự chín muồi, định hướng và động viên Nhân dân miền Nam vùng lên trong phong trào Đồng Khởi (1959 - 1960), xoay chuyển tình thế cách mạng miền Nam, đáp ứng nguyện vọng tha thiết lúc này của cán bộ, chiến sĩ và đồng bào miền Nam cũng như cả nước.

- Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhân dân có sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang cách mạng đã vùng lên khởi nghĩa giành chính quyền ở nhiều vùng nông thôn. Lực lượng vũ trang và hệ thống chỉ huy quân sự các cấp của ta từng bước hình thành, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam thành lập. Cuộc chiến tranh Giải phóng miền Nam đã được khởi động một cách độc đáo, khéo léo, làm thất bại một hình thức thống trị điển hình theo phương thức chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ.

b. Giai đoạn hai từ năm 1961 đến giữa năm 1965: Giữ vững và phát triển thế tiến công, đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ.

- Từ cuối năm 1960, việc sử dụng chính quyền tay sai độc tài phát xít Ngô Đình Diệm đã liên tiếp bị thất bại. Để đối phó với sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng miền Nam, chiếm lại những địa bàn, vùng dân cư đã mất sau cuộc Đồng Khởi của ta, đế quốc Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”. Đây là chiến lược đầu tiên trong ba loại chiến tranh nằm trong chiến lược quân sự toàn cầu “Phản ứng linh hoạt” của Mỹ.

- Đối trọng với chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ, Đảng ta chủ trương chuyển cách mạng Giải phóng miền Nam lên giai đoạn mới. Từ đây, cuộc khởi nghĩa từng phần phát triển lên thành cuộc chiến tranh cách mạng quy mô toàn miền. Trong những năm 1961 - 1964, Nhân dân miền Nam vừa đấu tranh, vừa chú trọng xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng với sự chi viện hiệu quả từ miền Bắc. Nhiều trung đoàn chủ lực miền Nam được thành lập. Tích cực mở rộng căn cứ cách mạng, phát triển chiến tranh du kích, tăng cường đánh phá các căn cứ quân sự xung yếu của địch như sân bay, kho tàng, bến cảng, phá hệ thống ấp chiến lược do địch lập ra, liên tiếp giành thắng lợi trên các chiến trường. Điển hình là trận Ấp Bắc (tháng 01 năm 1963), chiến dịch Bình Giã (tháng 12 năm 1964 - tháng 01 năm 1965), Ba Gia (tháng 5 năm 1965 - tháng 7 năm 1965), Đồng Xoài (tháng 5 năm 1965 - tháng 7 năm 1965).

- Dựng lên sự kiện “Vịnh Bắc Bộ”, đế quốc Mỹ mở đầu cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân. Ngày 05 tháng 8 năm 1964, chúng dùng 64 lần máy bay mở cuộc tiến công “Mũi tên xuyên” đánh ồ ạt ở các khu vực sông Gianh (Quảng Bình), Cửa Hội (Vinh), Lạch Trường (Thanh Hóa), Bãi Cháy (Quảng Ninh). Các đơn vị hải quân, phòng không, dân quân tự vệ đã nâng cao cảnh giác, hiệp đồng chặt chẽ, mưu trí dũng cảm, chiến đấu ngoan cường, bắn rơi 8 máy bay. Ngày 05 tháng 8 trở thành ngày truyền thống đánh thắng trận đầu của bộ đội Hải quân nhân dân Việt Nam. Chiến thắng ngày 05 tháng 8 năm 1964 cổ vũ mạnh mẽ khí thế chiến đấu, củng cố niềm tin và khẳng định ý chí quyết tâm đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân Mỹ của Nhân dân ta.

c. Giai đoạn ba từ giữa năm 1965 đến hết năm 1968: Đảng phát động toàn dân chống Mỹ, cứu nước, đánh bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ ở miền Nam, đánh thắng cuộc phá hoại bằng không quân, hải quân lần thứ nhất ở miền Bắc.

- Thực chất của chiến lược “Chiến tranh cục bộ” là sử dụng quân Mỹ làm lực lượng cơ động, chủ yếu để tiêu diệt bộ đội chủ lực của ta; quân ngụy làm lực lượng chiếm đóng, bình định, kìm kẹp dân hòng đánh bại cách mạng miền Nam trong vòng 25 - 30 tháng (từ giữa năm 1965 đến năm 1967). Chúng đưa vào miền Nam hơn nửa triệu quân Mỹ và quân đội một số nước chư hầu. Đồng thời sử dụng không quân và hải quân mở chiến dịch “Sấm rền”, đánh phá ác liệt với mưu đồ “Đưa miền Bắc trở lại thời kỳ đồ đá”, hòng ngăn chặn chi viện từ miền Bắc và quốc tế vào miền Nam.

- Trước tình hình leo thang chiến tranh của địch và những khó khăn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, các hội nghị Trung ương lần thứ 11 (tháng 3 năm 1965) và lần thứ 12 (tháng 12 năm 1965) trên cơ sở phân tích một cách khoa học, so sánh lực lượng giữa ta và địch, Trung ương khẳng định sự thất bại không tránh khỏi của đế quốc Mỹ và hạ quyết tâm động viên lực lượng cả nước giữ vững chiến lược tấn công, nêu cao ý chí tự lực, tự cường, phát huy sức mạnh của toàn dân tộc, tranh thủ sự giúp đỡ của quốc tế, kiên quyết đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược, Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Ngày 17 tháng 7 năm 1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi lịch sử, kêu gọi toàn dân đoàn kết một lòng, quyết tâm chống Mỹ, cứu nước.

- Trước tình hình đó, các lực lượng vũ trang cách mạng đã tăng cường xây dựng lực lượng ba thứ quân, đẩy mạnh tác chiến của bộ đội chủ lực kết hợp với hoạt động tác chiến rộng khắp của bộ đội địa phương và dân quân, du kích. Chiến thắng Núi Thành của bộ đội địa phương tỉnh Quảng Nam (tháng 5 năm 1965), chiến thắng Vạn Tường (tháng 8 năm 1965), thắng lợi của các chiến dịch Plây-me (tháng 11 năm 1965) và tiếp đó là các chiến công vang dội đập tan hai cuộc phản công chiến lược mùa khô (1965 - 1966, 1966 - 1967) của Mỹ ở miền Nam, đẩy Mỹ vào thế tiến thoái lưỡng nan về chiến lược.

- Thực hiện chủ trương của Đảng, quân và dân ta mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân năm 1968 nhằm giáng một đòn quyết liệt vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ. Đêm 30, rạng sáng ngày 31 tháng 01 năm 1968 (tức đêm mùng 1, rạng sáng mùng 2 Tết Mậu Thân) các lực lượng vũ trang và Nhân dân miền Nam đã tiến công và nổi dậy trên toàn miền, đồng loạt tiến công địch ở 4 thành phố, 37 thị xã, hàng trăm thị trấn, đánh vào hầu hết cơ quan đầu não Trung ương, địa phương của Mỹ lẫn ngụy. Nhân dân nhiều vùng nông thôn đã nổi dậy mạnh mẽ, đập tan bộ máy kìm kẹp của địch, phá vỡ hàng loạt “Ấp chiến lược”, bức rút nhiều hệ thống đồn bót, giải phóng và giành quyền làm chủ, xây dựng chính quyền cách mạng, mở rộng và củng cố hậu phương ta. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân năm 1968 của ta như “Một đòn sét đánh” đối với bọn trùm xâm lược Mỹ, làm choáng váng cả nước Mỹ và chấn động dư luận thế giới.

d. Giai đoạn thứ tư từ năm 1969 đến năm 1973: Phát huy sức mạnh liên minh chiến đấu Việt Nam với Lào, Cam-pu-chia, làm thất bại một bước chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân lần thứ hai ở miền Bắc, tạo thế mạnh trong đàm phán.

- Thực chất của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” là “Đổi màu da trên xác chết”, “Dùng người Việt giết người Việt”, “Dùng người Đông Dương giết người Đông Dương” bằng tiền của và vũ khí của Mỹ, do người Mỹ chỉ huy. Chính quyền Ních-xơn vừa từng bước rút quân Mỹ, vừa ra sức củng cố và tăng cường ngụy quân, ngụy quyền, vừa phản công và tiến công quyết liệt để chống phá ta. Chúng tập trung hầu hết lực lượng của Mỹ - ngụy để bình định nông thôn, sử dụng phương tiện chiến tranh hiện đại, kể cả vũ khí hóa học, chiến tranh điện tử và không quân chiến lược để tiến hành chiến tranh hủy diệt, chiến tranh giành dân, đánh phá các căn cứ địa cách mạng và hậu phương của ta.

- Trước tình hình đó, Đảng ta nhận định: Đông Dương đã trở thành một chiến trường thống nhất, kẻ thù chung của cả ba nước Đông Dương lúc này là đế quốc Mỹ xâm lược. Miền Nam Việt Nam là chiến trường chính, Cam-pu-chia là chiến trường yếu nhất của địch, Lào ngày càng có vị trí hiểm yếu, miền Bắc Việt Nam là hậu phương chung của cả ba nước Đông Dương. Quân và dân ta phối hợp với Lào và Cam-pu-chia, đánh địch trên khắp chiến trường ba nước Đông Dương, đập tan cuộc hành quân “Lam Sơn 719” ở Đường 9 - Nam Lào, đánh bại cuộc hành quân “Toàn thắng 01 năm 1971” ở Cam-pu-chia, đánh tơi tả lực lượng của địch ở ngã ba biên giới, tiêu diệt địch trong cuộc hành quân “Chen La II” ở Đông Bắc Cam-pu-chia, đập tan quá trình tiến công - phản kích bằng các cuộc hành quân lớn của Mỹ, ngụy trên chiến trường ba nước Đông Dương.

- Ngày 06 tháng 4 năm 1972, Mỹ huy động không quân và hải quân ồ ạt đánh phá miền Bắc lần thứ hai (đây còn gọi là “Chiến dịch Lai-nơ Bếch-cơ”), thả mìn phong tỏa các hải cảng và bờ biển miền Bắc Việt Nam. Với tinh thần dũng cảm và cách đánh mưu trí linh hoạt, qua bảy tháng chiến đấu quyết liệt, quân và dân miền Bắc, nòng cốt là Quân chủng Phòng không, không quân; Quân chủng Hải quân; Binh chủng Pháo binh, đã bắn rơi hơn 600 máy bay, trong đó có chiếc thứ 4.000 bị bắn rơi trên miền Bắc, bắn chìm và bắn cháy gần 100 tàu chiến Mỹ.

- Ngày 22 tháng 10 năm 1972, “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” đã hoàn thành về nội dung, nhưng ngay ngày hôm sau, Mỹ lại tráo trở, đòi sửa lại nhiều điểm quan trọng thuộc nội dung Hiệp định, đồng thời chúng liều lĩnh tiến hành một nấc thang chiến tranh mới cực kỳ tàn bạo. Từ ngày 18 đến ngày 29 tháng 12 năm 1972, Ních-xơn ra lệnh mở cuộc tập kích đường không chiến lược quy mô lớn nhất mang tên “Chiến dịch Lai-nơ Bếch-cơ II” vào miền Bắc. Một lần nữa, quân và dân miền Bắc đã anh dũng, mưu trí, chiến đấu kiên cường, trừng trị thích đáng không quân Mỹ.

e. Giai đoạn thứ năm từ cuối năm 1973 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975: Tạo thế và lực, tạo thời cơ, kiên quyết tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân năm 1975, kết thúc thắng lợi trọn vẹn cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

- Sau khi ký Hiệp định Pa-ri, mặc dù buộc phải rút hết quân nhưng đế quốc Mỹ âm mưu củng cố ngụy quân, ngụy quyền làm công cụ thực hiện chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam Việt Nam, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới. Mỹ tăng cường chi viện tiền của, vũ khí, phương tiện chiến tranh cho quân ngụy, lấn đất giành dân, thực hiện các hoạt động ngoại giao xảo quyệt để ngăn chặn sự phát triển của cách mạng miền Nam. Đến tháng 5 năm 1973, xu thế chống phá Hiệp định Pa-ri của địch ngày càng tăng. Chúng điên cuồng đánh phá hòng xóa bỏ vùng giải phóng của ta, đẩy lùi lực lượng cách mạng.

- Tháng 7 năm 1973, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 21 khẳng định con đường cách mạng miền Nam vẫn là con đường bạo lực và đề ra các nhiệm vụ lớn cho hai miền Nam - Bắc. Nửa cuối năm 1974, cuộc chiến tranh của quân và dân ta ở miền Nam chống chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” đã giành được thắng lợi. Nước Mỹ lâm vào khủng hoảng nội bộ. Tháng 7 năm 1974, Đảng ta chỉ đạo Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam xây dựng kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam trong hai năm 1975 - 1976, nếu thời cơ đến sẽ giải phóng miền Nam trong năm 1975.

- Đầu năm 1975, trên cơ sở đánh giá, so sánh lực lượng giữa ta và địch, nắm bắt thời cơ lịch sử, Bộ Chính trị hạ quyết tâm chiến lược, giải phóng miền Nam, đánh bại hoàn toàn cuộc chiến tranh thực dân mới của Mỹ bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân năm 1975. Ngày 04 tháng 3 năm 1975 bộ đội ta mở chiến dịch Tây Nguyên. Sau một số trận đánh tạo thế và nghi binh chiến dịch, ngày 10 và 11 tháng 3 năm 1975, quân ta tiến công bằng sức mạnh binh chủng hợp thành, giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột. Đây là trận đánh then chốt của chiến dịch, một trận điểm đúng huyệt, tiêu diệt nhiều lực lượng tinh nhuệ và khí tài chiến tranh của địch, làm rối loạn sự chỉ đạo chiến lược và đảo lộn thế phòng thủ ở chiến trường Tây Nguyên, mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân năm 1975.

- Trên cơ sở những thắng lợi có ý nghĩa quyết định, ngày 14 tháng 4 năm 1975, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Hồ Chí Minh nhằm giải phóng Sài Gòn - Gia Định vàhoàn toàn miền Nam. Thực hiện tư tưởng chỉ đạo “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ,chắc thắng”, các đơn vị chủ lực của quân đội ta đã thực hiện cuộc hành quân thần tốc, tiến về giải phóng Sài Gòn:

  • Hướng Tây Bắc có Quân đoàn 3 tăng cường phối hợp với lực lượng vũ trang Tây Ninh, Sài Gòn - Gia Định;
  • Hướng Bắc và Đông Bắc có Quân đoàn 1 tăng cường lực lượng đặc công, xe tăng, cao xạ
  • Hướng Đông và Đông Nam có Quân đoàn 4 và Quân đoàn 2 tăng cường pháo binh, xe tăng, cao xạ, đặc công, biệt động;
  • Hướng Tây và Tây Nam có Đoàn 232 chủ lực miền Nam và chủ lực Quân khu 8, lực lượng tương đương một quân đoàn;
  • Vùng ven và nội thành Sài Gòn có các đơn vị đặc công, pháo binh kết hợp với lực lượng chính trị của Nhân dân.

- Ngày 30 tháng 4 năm 1975, các binh đoàn đột kích thọc sâu kết hợp với lực lượng bên trong nhanh chóng đánh chiếm các mục tiêu trọng yếu của địch ở nội thành như: Sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng tham mưu ngụy, Bộ Tư lệnh Biệt khu Thủ đô, căn cứ Hải quân, Cảng Bạch Đằng, Đài Phát thanh, Tổng nha cảnh sát Trung ương. Lúc 10 giờ 45 phút, Binh đoàn hỗn hợp chủ lực Quân đoàn 2 của ta chiếm “Dinh Độc Lập”, bắt toàn bộ ngụy quyền Trung ương, buộc chúng tuyên bố đầu hàng không điều kiện. Cờ giải phóng đã tung bay trước tòa nhà chính “Dinh Độc Lập” lúc 11 giờ 30 phút, ngày 30 tháng 4 năm 1975. Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử toàn thắng; cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân năm 1975 thắng lợi hoàn toàn.

II. ĐẢNG BỘ VÀ NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG THỜI KỲ ĐẤU TRANH CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC

-Thực hiện âm mưu xâm lược Việt Nam, Mỹ đã tiến hành các thủ đoạn nhằm độc chiếm, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của chúng, làm bàn đạp để tiến công miền Bắc, thôn tính cả nước ta.

- Mỹ và chính quyền tay sai đã chọn Sài Gòn - Gia Định làm thủ đô của chính thể “Việt Nam Cộng hòa”, là trung tâm đầu não, sào huyệt, bộ mặt ngoại giao, trung tâm kinh tế, văn hóa và còn là căn cứ quân sự lớn nhất của chúng ở miền Nam. Sài Gòn - Gia Định trở thành bộ mặt điển hình của chủ nghĩa thực dân mới và là biểu tượng cho sức mạnh về mọi mặt của Mỹ - chính quyền tay sai ở miền Nam Việt Nam, chúng ra sức củng cố và tăng cường bảo vệ, cố giữ cho được vị trí chiến lược quan trọng này trong suốt quá trình tiến hành các chiến lược chiến tranh xâm lược trên đất nước ta. Vì vậy, Nhân dân Sài Gòn - Gia Định trực tiếp hứng chịu sự kìm kẹp, bóc lột, đàn áp rất khắc nghiệt và dã man bởi chính sách, thủ đoạn cai trị thâm độc, tàn bạo của Mỹ và tay sai.

- Sài Gòn - Gia Định bị biến thành thủ phủ thuộc địa của chế độ thực dân kiểu mới và trong bối cảnh đất nước bị chia cắt, dưới bàn tay của Mỹ - chính quyền tay sai còn là nơi tập trung sâu sắc nhất, điểm xoáy của những mâu thuẫn xã hội ở miền Nam Việt Nam. Đảng bộ và quân dân Sài Gòn - Gia Định đã phải đương đầu với kẻ thù sừng sỏ, rất hung hãn và tàn bạo ngay tại trung tâm sào huyệt của chúng.

- Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Đảng bộ, quân, dân Sài Gòn - Chợ Lớnvà Gia Định đấu tranh kiên cường, thắng lợi vẻ vang, góp phần xứng đáng vào thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

- Hiệp định Giơ-ne-vơ vừa được ký kết (20 tháng 7 năm 1954), mặc dù Mỹ - Diệm đã ra sức phá hoại Hiệp định, chúng thiết lập chế độ độc tài phát xít, đàn áp các lực lượng đối lập và thực hiện chính sách tàn bạo “Tố cộng, diệt cộng” trên toàn miền Nam Việt Nam; nhưng tuân thủ nội dung Hiệp định Giơ-ne-vơ, từ năm 1954 đến năm 1959, Trung ương Đảng chủ trương miền Nam thực hiện đấu tranh chính trị, Đảng bộ Sài Gòn - Chợ Lớn và Gia Định đã lãnh đạo Nhân dân tiến hành cuộc đấu tranh đòi Mỹ - Diệm thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, đòi các quyền dân sinh, dân chủ và giữ gìn lực lượng cách mạng. Tháng 11 năm 1954, Hội nghị Khu ủy mới của Sài Gòn - Chợ Lớn do Trung ương Cục chỉ định đã phân tích đặc điểm tình hình của Thành phố và đã chỉ ra rằng: Nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn vốn có truyền thống cách mạng rất cao, lại rất nhạy bén với thời cuộc; Thành phố đang sôi nổi bước vào phong trào đấu tranh chính trị, đang có nhiều thuận lợi cho ta.

- Các tầng lớp Nhân dân đã tham gia đấu tranh sôi nổi với các hình thức biểu tình, bãi công, bãi thị, bãi khóa… tạo thành cao trào, phong trào đấu tranh chính trị nối tiếp nhau liên tục. Thực tiễn cuộc đấu tranh của Đảng bộ và Nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn và Gia Định trước khó khăn, khắc nghiệt của giai đoạn này đã chứng tỏ tinh thần cách mạng, chấp nhận hy sinh gian khổ để đi theo Đảng, trong đấu tranh đã sáng tạo góp phần cung cấp kinh nghiệm cho Đảng để đề ra đường lối cách mạng miền Nam, đó là khởi nghĩa giành chính quyền, đấu tranh chính trị kết hợp với vũ trang.

- Tháng 11 năm 1959, Nghị quyết 15-NQ/TW của Trung ương Đảng được triển khai như một luồng gió mới khơi dậy các tiềm năng cách mạng. Từ năm 1960 - 1965, Đảng bộ và Nhân dân Sài Gòn - Gia Định với cuộc chiến đấu sinh động của mình ngay ở sào huyệt kẻ thù đã góp phần xứng đáng vào quá trình đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ.

Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III), họp vào tháng 01 năm 1968 chỉ rõ: Cuộc kháng chiến của ta lúc này cần phải và có thể tạo một chuyển biến lớn giữa lúc đế quốc Mỹ đang ở thế lưỡng nan về chiến lược, giới cầm quyền Mỹ đang dao động trong thời điểm rất nhạy cảm của năm bầu cử Tổng thống Mỹ, để chuyển cách mạng và chiến tranh cách mạng miền Nam sang một thời kỳ mới, thời kỳ giành thắng lợi quyết định; phải tạo được một bước ngoặt lớn của chiến tranh; phải tạo một bước nhảy vọt bằng chọn hướng chiến lược hiểm và dùng cách đánh mới, giáng một đòn bất ngờ thật mạnh vào ý chí xâm lược của Mỹ.

Phát huy khí thế tiến công, Đảng bộ Sài Gòn - Gia Định đã lãnh đạo quân, dân Thành phố đánh bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ và tham gia vào cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968.

- Đến trước thắng lợi của việc ký kết Hiệp định Pa-ri (tháng 01 năm 1973), phong trào đấu tranh của Sài Gòn - Gia Định dâng cao, tạo nên thực lực cách mạng để chuẩn bị đón thời cơ mới. Các phong trào bùng lên quyết liệt thu hút hầu hết các lực lượng đấu tranh tạo “Tình thế cách mạng” cho Thành phố - khẩu hiệu chính trị “Đuổi Mỹ, lật Thiệu” biểu hiện trong các phong trào chống chính sách văn hóa thực dân, chiến dịch đốt xe Mỹ, phong trào phản đối thuế lương bổng, phong trào “Chống chiến tranh và tổng động viên”, phong trào “Chống bầu cử gian lận”, tố cáo tội ác Mỹ - Thiệu, “Nói cho đồng bào tôi nghe và nghe đồng bào tôi nói”, “Phong trào phụ nữ đòi quyền sống”, “Phong trào báo chí cách mạng”, phong trào chống bắt lính đôn quân, bảo vệ thanh niên trốn lính và lính trốn… trong đó, phong trào sinh viên - học sinh của Thành Đoàn đã trở thành trung tâm đột phá của phong trào đô thị ta đẩy mạnh chiến tranh du kích đánh địch, mở rộng vùng giải phóng, mở hành lang, nối liền hậu cứ với tuyến trước, lực lượng vũ trang Thành phố đứng chân vững chắc ở vùng ven đô, phát triển thế và lực cách mạng nông thôn ngoại thành.

- Ngày 27 tháng 01 năm 1973, Hiệp định Pa-ri  về “Chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” được ký kết, đây là thắng lợi vô cùng quan trọng của Nhân dân ta đã giành được trong cuộc đấu tranh lâu dài chống đế quốc Mỹ xâm lược. Trên chiến trường miền Nam, không còn quân đội Mỹ, sự so sánh lực lượng thay đổi có lợi cho ta. Đảng bộ Sài Gòn - Gia Định cùng toàn Đảng, toàn dân bước tiếp một giai đoạn đấu tranh mới: Đánh cho ngụy nhào để kết thúc chiến tranh và giành độc lập thống nhất hoàn toàn cho Tổ quốc.

- Ngay từ ngày 24 tháng 01 năm 1973, Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số 200-CT/TW chỉ rõ: “Cuộc cách mạng ở miền Nam có nhiều thuận lợi mới nhưng còn gay go, phức tạp, có khả năng tiến triển trong điều kiện hòa bình được giữ vững, nhưng phải sẵn sàng đối phó với khả năng địch ngoan cố phá hoại hòa bình”.

- Chỉ thị số 03/CT-73, ngày 27 tháng 3 năm 1973, Trung ương Cục cũng nêu rõ: “Tuyệt đối ta không ảo tưởng địch sẽ thi hành Hiệp định nhưng cũng không đơn giản cho rằng địch muốn làm gì thì làm. Mặt quan trọng có tính chất quyết định là nỗ lực và tác động chủ quan của phía cách mạng”, phải kiên trì và hết sức khẩn trương đẩy mạnh đấu tranh và xây dựng thực lực cách mạng. Mặt khác cần phải dùng các điều khoản mang tính pháp lý Hiệp định để đẩy mạnh đấu tranh chính trị và binh vận.

- Đảng bộ Sài Gòn - Gia Định đã lãnh đạo Nhân dân chống địch phá hoại Hiệp định Pa-ri và đòi các quyền dân sinh, dân chủ, tiến lên đẩy mạnh đấu tranh, phát triển vững chắc thế và lực của cách mạng. Cùng với khí thế tiến công trên chiến trường cả nước, quân, dân Sài Gòn - Gia Định tiến công địch, chủ động đánh địch ngay trong vùng chúng kiểm soát, đấu tranh chính trị kết hợp hoạt động vũ trang, công tác binh vận được đẩy mạnh để đánh địch, cơ sở cách mạng phát triển mạnh, tạo điều kiện đón thời cơ chiến lược.

- Đấu tranh chính trị diễn ra sôi nổi, dồn dập, sâu rộng trong các tầng lớp Nhân dân đòi lật đổ Thiệu, chấm dứt chiến tranh, trả tù chính trị… thông qua các “Phong trào chống sa thải công nhân”, “Phong trào cứu đói”, “Bảo vệ quyền lợi người lao động”; các cuộc đấu tranh “Ngày ký giả đi ăn mày”, “Báo chí và công lý thọ nạn”… Hoạt động vũ trang được đẩy mạnh, lực lượng địa phương Sài Gòn - Gia Định hình thành 6 mũi tiến công (trong đó có 6 đoàn đặc công, 3 tiểu đoàn biệt động và 11 đại đội) - ta đẩy mạnh chiến tranh du kích, đánh phá ấp chiến lược, giao thông của địch, tổ chức tuyên truyền vũ trang, diệt ác, phá kìm, tạo được địa bàn vững chắc ngay ở ven đô. Nhiệm vụ chuẩn bị tạo điều kiện tiến hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa giành chính quyền của Sài Gòn - Gia Định đã hoàn thành, sẵn sàng tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh.

- Ngày 31 tháng 3 năm 1975, Bộ Chính trị họp và nhận định: “Cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam không những đã bước vào giai đoạn phát triển nhảy vọt mà thời cơ để mở tổng tấn công và nổi dậy tại Sài Gòn - Gia Định đã chín muồi”.

- Ngày 12 tháng 4 năm 1975, Thường vụ Thành ủy Sài Gòn - Gia Định ra Chỉ thị “Những việc cần làm ngay trong các giai đoạn: trước, trong và sau khi thành phố được giải phóng”, khẳng định “Hiện nay chúng ta đang ở thời kỳ trực tiếp cách mạng ở thành phố, là giai đoạn tổng công kích, tổng khởi nghĩa để giành toàn bộ chính quyền về tay Nhân dân… ”. Chỉ thị kêu gọi toàn Đảng, toàn dân chấp nhận hi sinh để hoàn thành sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc.

- Trước ngày Tổng tiến công và nổi dậy, ở Thành phố có hơn 700 cán bộ, ở vùng ven có hơn 1.000 cán bộ, hơn 1.300 cán bộ ở gần sẵn sàng vào Thành phố, nội thành và vùng ven có 1.200 đảng viên và hơn 10.000 quần chúng nòng cốt; có 40 lõm chính trị với 7.000 quần chúng đã giành quyền làm chủ, 400 tổ chức công khai với gần 25.000 quần chúng; tổ chức cơ sở và đã in hàng triệu bản tài liệu, truyền đơn, may cờ, kẻ khẩu hiệu, chuẩn bị loa, kèn, trống, hàng trăm xe có gắn loa phóng thanh để tuyên truyền, vận động nổi dậy. Nhân dân Thành phố đã tham gia chuẩn bị tại chỗ và chuyển từ ngoài với khối lượng 58.000 tấn vũ khí, lương thực, nhiên liệu, thuốc men, dụng cụ y tế… bảo đảm hậu cần cho chiến dịch đến 60%.

- Tất cả các lực lượng và công tác hậu cần đã sẵn sàng bước vào trận quyết chiến chiến lược. Dưới sự lãnh đạo toàn diện và sâu sát của Thành ủy, toàn Đảng bộ và quân, dân Sài Gòn - Gia Định đã sẵn sàng đi vào chiến dịch với khí thế sôi sục và quyết tâm hơn bao giờ hết.

- Từ ngày 25 tháng 4 năm 1975, khi các Quân đoàn ta tiến vào điểm tập kết bao vây Sài Gòn thì các xã Tân Kiên, Tân Nhựt, Tân Tạo (Bình Chánh), Nhân dân đã dẫn đường cho bộ đội chủ lực và nổi dậy diệt tề, treo cờ giải phóng.

- 14 giờ, ngày 26 tháng 4 năm 1975, Thành ủy họp ở An Thạnh để kiểm điểm lại lần cuối toàn bộ công việc đã chuẩn bị và sau đó xuống cơ sở để trực tiếp chỉ đạo công việc khởi nghĩa ở thành phố và ven đô. Các lực lượng vũ trang của Thành đội, các lực lượng đặc công đã ém sẵn ở các cầu dẫn vào thành phố và các vị trí xung yếu, sẵn sàng đánh địch.Giờ giải phóng Sài Gòn đã điểm!

-17 giờ, ngày 26 tháng 4 năm 1975, cuộc Tổng Tiến công của đại quân ta vào tuyến phòng thủ ngoại vi của Sài Gòn - Gia Định bắt đầu. Vành đai phòng thủ vòng ngoài của Sài Gòn bị chọc thủng, quân ta áp sát và chuẩn bị tiến công vào nội đô. Đêm đó, Nguyễn Văn Thiệu cùng Trần Thiện Khiêm lên máy bay đào tẩu khỏi Sài Gòn.

- Chiều ngày 26 tháng 4, các đồng chí phụ trách Ban Công vận đã truyền lệnh Tổng khởi nghĩa cho tất cả cơ sở của Ban Công vận trong Thành phố.

- Ngày 28 tháng 4, sân bay Tân Sơn Nhất bị không quân ta ném bom. 15 giờ cùng ngày, Dương Văn Minh nhậm chức Tổng thống, nhân cơ hội này ta đưa người vào nắm các chức vụ quan trọng trong quân đội, cảnh sát, chính quyền địch để góp phần làm địch nhanh chóng tan rã, thúc đẩy Chính phủ ngụy quyền sớm đầu hàng, tránh làm đổ nát, thương vong cho Thành phố.

- Ta kêu gọi Nhân dân nổi dậy giành chính quyền và binh sĩ ngụy đầu hàng trên báo “Điện tín”. Các cơ sở nội tuyến, điệp báo, binh vận của ta ở nội đô hoạt động không cho địch tẩu tán, phá hủy tài liệu, tài sản công sở.

- Phối hợp với các cuộc tiến công của các quân đoàn từ ngoài đánh vào, các lực lượng vũ trang địa phương, du kích, biệt động, đặc công ở ven đô và nội đô đã tiến đánh các mục tiêu; đánh địch ở Tân Cảng, Cổ Loa và đánh chiếm một số nơi để hỗ trợ cho đồng bào nổi dậy (quận 6, Tân Sơn Nhì, Phú Thọ Hòa…).

-  5 giờ, ngày 29 tháng 4 năm 1975, quân ta nã pháo vào sân bay Tân Sơn Nhất, các quân đoàn chủ lực ào ạt tiến về Thành phố. Các đơn vị đặc công, biệt động, an ninh của ta đánh chiếm các cầu và áp sát mục tiêu - lực lượng vũ trang Sài Gòn - Gia Định đã chiếm giữ 14 chiếc cầu cho đại quân ta tiến vào nội đô. Ở các trọng điểm khởi nghĩa và các nơi có điều kiện, Nhân dân ta đã đứng lên giành chính quyền (một số nơi của Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, Gò Vấp, Bình Thạnh, Tân Bình). Chiều cùng ngày, 16.000 cảnh sát được cho về nhà, bộ máy kìm kẹp của ngụy quyền ở cơ sở bị tan rã đã tạo điều kiện cho đồng bào nội đô nổi dậy. Đêm cùng ngày, Bộ Tổng Tham mưu và các đơn vị phòng thủ của quân ngụy hầu hết tan rã, bỏ chạy; cơ sở an ninh, bí mật của ta nắm chỉ huy quân đội, thúc đẩy Dương Văn Minh sớm đầu hàng.

- 5 giờ 30, ngày 30 tháng 4 năm 1975, quân ta từ 4 hướng đồng loạt tiến vào nội thành, lúc 9 giờ 30 phút, Dương Văn Minh đưa lên Đài Phát thanh Sài Gòn phát đi  “Tuyên bố thành phố bỏ ngỏ” và cho phát lệnh kêu gọi binh sĩ ngừng bắn, ở đâu giữ nguyên ở đó...

- Nhân dân dưới sự lãnh đạo của các cơ sở đảng và của các đoàn thể, ban, ngành đã nhanh chóng vùng lên treo cờ, khẩu hiệu cách mạng và tỏa ra chiếm các công sở, đồn, trại, bót cảnh sát của địch, giành chính quyền về tay Nhân dân, suốt ngày 29 đến rạng sáng 30 tháng 4 năm 1975, đã có 107 điểm nổi dậy của Nhân dân. Được lực lượng vũ trang tại chỗ hỗ trợ, Nhân dân đã tự giải phóng các huyện lỵ Củ Chi, Hóc Môn, Gò Vấp, Thủ Đức, Bình Chánh, Cần Giờ chiếm trụ sở hành chính các quận 3, 5, 8, 10, 11, Tòa hành chính tỉnh Gia Định, chiếm 2 ty cảnh sát của quận 3 và 5; khu trọng điểm khởi nghĩa ở Ngã Bảy, các điểm khởi nghĩa của Thành Đoàn và Hoa vận. Các chi bộ đảng ở xí nghiệp đã lãnh đạo công nhân nổi dậy chiếm các cơ sở sản xuất, các công xưởng, nhà máy nước, nhà máy điện… giữ cho Thành phố không bị mất điện, mất nước. Các cơ sở binh vận của ta nhanh chóng lãnh đạo Nhân dân kêu gọi binh lính địch buông súng, giúp họ trở về gia đình.

- Gần 11 giờ trưa, ngày 30 tháng 4 năm 1975, mũi thọc sâu của Quân đoàn 2 với chiếc xe tăng mang số hiệu 390 húc đổ cổng chính và tiến thẳng vào Dinh Độc Lập, chính thức kết thúc chế độ Mỹ và tay sai ở miền Nam Việt Nam và đánh dấu giờ phút lịch sử vinh quang của Đảng ta hoàn thành sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước.

- Cùng lúc, các cánh quân của ta tỏa ra chiếm lĩnh các mục tiêu trong Thành phố. Nhân dân Thành phố đã mang cờ, hoa ra đường để chào quân giải phóng và hỗ trợ các lực lượng vũ trang, an ninh truy quét tàn quân, kêu gọi binh sĩ Sài Gòn ra trình diện, giữ trật tự an ninh, góp phần xây dựng chính quyền cách mạng.

- Ngày 06 tháng 5 năm 1975, Thành ủy họp mở rộng sơ bộ nhận xét về kết quả Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng Thành phố và nhanh chóng chỉ đạo toàn Đảng bộ tiếp tục thực hiện các phần việc sau khi giải phóng như Chỉ thị ngày 12 tháng 4 năm 1975 đã đề ra.

- Trong thắng lợi huy hoàng của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, Đảng bộ và quân, dân Sài Gòn - Gia Định đã góp một phần công sức xứng đáng. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh đã biểu lộ sự hiệp đồng chiến đấu tuyệt vời của quân chủ lực (5 quân đoàn) với lực lượng vũ trang Thành phố với sự nổi dậy dưới nhiều mức độ các thời điểm khác nhau của Nhân dân; với sự tham gia tấn công địch của tất cả các lực lượng yêu nước vào ngay các cơ quan đầu não của địch đã làm cho quân thù nhanh chóng tan rã và sụp đổ. Chính sự hiệp đồng chiến đấu tuyệt vời đã thực hiện được ước vọng của Đảng và Nhân dân là giữ cho Thành phố được nguyên vẹn. “Quần chúng đã vào trận chiến đúng lúc, không quá sớm, cũng không muộn quá. Hành động yêu nước của Nhân dân tạo ra khí thế cách mạng tràn ngập đường phố, là sức mạnh to lớn. Đây là cái quý nhất của quần chúng Sài Gòn - Gia Định và đây cũng là kết quả công tác tuyên truyền giáo dục tổ chức và rèn luyện trong đấu tranh qua nhiều năm của Đảng bộ Thành phố”.

- Thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh đã: “Kết thúc vẻ vang quá trình 30 năm chiến tranh giải phóng của dân tộc và bảo vệ Tổ quốc bắt đầu từ Cách mạng Tháng Tám, chấm dứt vĩnh viễn ách thống trị hơn một thế kỷ của chủ nghĩa đế quốc trên đất nước ta, làm cho Tổ quốc ta vĩnh viễn độc lập, thống nhất và đưa cả nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi ấy đã làm thất bại cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới quy mô lớn nhất và dài ngày nhất từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, làm đảo lộn chiến lược toàn cầu của tên đế quốc đầu sỏ, đẩy Mỹ vào tình trạng khó khăn chưa từng thấy”.

III. Ý NGHĨA, NGUYÊN NHÂN THẮNG LỢI VÀ NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRONG SỰ NGHIỆP KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC

1. Ý nghĩa thắng lợi:

1.1. Đối với Nhân dân ta:

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước:

- Đánh dấu bước ngoặt rất cơ bản, quyết định của con đường cách mạng mà Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch ra từ Chính cương vắn tắt 1930 - Con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tự do, ấm no, hạnh phúc.

- Kế tục Cách mạng Tháng Tám năm 1945, phát huy thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), là trận đánh quyết định nhất của cuộc chiến đấu 30 năm (1945 - 1975) gian khổ, ác liệt, giành lại và giữ vững nền độc lập tự do, thống nhất Tổ quốc. Từ đây cả dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên mới: Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đẩy lùi nghèo nàn, lạc hậu, tạo lập cuộc sống ấm no, hạnh phúc, dân chủ, công bằng, văn minh.

- Qua cuộc chiến đấu và chiến thắng, Đảng ta, Nhân dân ta, quân đội ta, dân tộc ta và mỗi người Việt Nam được rèn luyện cả về phẩm chất và tài năng, càng nhận thức sâu sắc hơn, đúng đắn hơn vị trí, khả năng và sức mạnh của mình trong thời đại mới.

- Nâng vị thế chính trị của Việt Nam trên thế giới lên một tầm cao mới và là niềm tự hào của mỗi người dân Việt Nam trong thế kỷ XX và mai sau.

1.2. Đối với thế giới:

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Nhân dân ta:

- Là một thắng lợi tiêu biểu của lực lượng cách mạng thế giới, góp phần thúc đẩy mạnh mẽ cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì độc lập, hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội.

- Đập tan cuộc phản công lớn nhất, kể từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai của chủ nghĩa đế quốc; là trào lưu cách mạng của thời đại, mà mũi nhọn là phong trào giải phóng dân tộc, mở đầu sự phá sản của chủ nghĩa thực dân kiểu mới trên toàn thế giới.

- Làm sáng tỏ tính hiện thực, tính phổ biến của xu thế phát triển của loài người tiến bộ, góp phần động viên cổ vũ các dân tộc dũng cảm, kiên cường, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thực hiện công cuộc giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người và trực tiếp góp phần to lớn vào công cuộc giải phóng dân tộc của nhân dân hai nước láng giềng Lào và Cam-pu-chia anh em.

- Là biểu tượng mới về sức mạnh của cách mạng thế giới, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, làm tiêu tan huyền thoại về sức mạnh của đế quốc Mỹ.

- Nêu bật một chân lý: Trong thời đại ngày nay, một dân tộc mà nước không rộng, người không đông, kinh tế kém phát triển, song dân tộc ta đã đoàn kết chặt chẽ và đấu tranh kiên quyết dưới sự lãnh đạo của một Đảng Mácxít-Lêninít, có đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn, kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại thì hoàn toàn có thể đánh bại mọi thế lực xâm lược.

2. Nguyên nhân thắng lợi:

- Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định hàng đầu bảo đảm thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

- Nhân dân và các lực lượng vũ trang nhân dân phát huy truyền thống yêu nước của dân tộc, một lòng đi theo Đảng, đi theo Bác Hồ, chiến đấu dũng cảm ngoan cường, bền bỉ, lao động quên mình vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội và vì quyền sống của con người.

 - Cả nước đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động, trên dưới một lòng, triệu người như một, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

 - Kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, tạo thành sức mạnh tổng hợp đánh Mỹ và thắng Mỹ.

 - Đoàn kết, liên minh chiến đấu với nhân dân Lào và nhân dân Cam-pu-chia.

3. Những bài học kinh nghiệm trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước:

- Kiên định, quyết tâm, quyết đánh, quyết thắng đế quốc Mỹ xâm lược.

- Đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đúng đắn, sáng tạo, độc lập, tự chủ.

- Nghệ thuật tiến hành chiến tranh Nhân dân sáng tạo.

- Tổ chức lực lượng cả nước đánh giặc.

- Xây dựng căn cứ địa cách mạng, hậu phương kháng chiến vững chắc, phát huy vai trò của hậu phương lớn và hậu phương vững chắc.

- Phát huy sức mạnh đoàn kết chiến đấu của ba dân tộc Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia để cùng nhau đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược.

- Đoàn kết quốc tế, phát huy sức mạnh của thời đại gắn với sức mạnh dân tộc.

- Bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người.

IV. ĐẢNG BỘ VÀ NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÃ TẠO RA SỰ BIẾN ĐỔI TO LỚN, SÂU SẮC, TOÀN DIỆN TRÊN MỌI LĨNH VỰC CỦA ĐỜI SỐNG XÃ HỘI, MANG LẠI NHỮNG THÀNH TỰU QUAN TRỌNG, CÓ Ý NGHĨA LỊCH SỬ TRONG 40 NĂM QUA, ĐẶC BIỆT LÀ THÀNH TỰU CỦA 30 NĂM ĐỔI MỚI

Bốn mươi năm là một chặng đường quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Thành phố, đánh dấu sự trưởng thành và đóng góp tích cực của Thành phố trong hình thành, hoàn thiện đường lối đổi mới của Đảng. Vượt qua khó khăn chồng chất trong 10 năm đầu (1975 - 1985), Thành phố đã giữ vững thành quả cách mạng, ổn định chính trị, khôi phục và phát triển kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh. Gần 30 năm qua cùng với cả nước, Đảng bộ và Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh thực hiện đường lối đổi mới (1986 - 2015), một chặng đường hết sức quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ, phát triển Thành phố đã đạt được thành tựu:

Giữ vững ổn định chính trị, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển của Thành phố.Thành phố luôn giữ vững ổn định chính trị, không để xảy ra điểm nóng, tình huống mất ổn định, kể cả khi tình hình trong nước có nhiều khó khăn, thế giới có những diễn biến phức tạp. Đây là một trong những thành tựu nổi bật, vừa là nguyên nhân, vừa là kết quả của quá trình phát triển, thể hiện năng lực lãnh đạo, sự kiên định và quyết tâm của Đảng bộ và Nhân dân Thành phố trong thực hiện đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sự ổn định chính trị với nền tảng là an dân thực sự là cơ sở chính trị quan trọng để thành phố Hồ Chí Minh dám nghĩ, dám làm, đi đầu cùng cả nước, vì cả nước thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nâng cao vai trò của Thành phố với cả nước và các thành phố lớn trong khu vực và trên thế giới.

Kinh tế duy trì tăng trưởng hàng năm ở mức cao.Đảng bộ Thành phố đã quán triệt, vận dụng, thực hiện sáng tạo đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng, bám sát thực tiễn, luôn tìm tòi, sáng tạo, mạnh dạn thể nghiệm nhiều cơ chế, chính sách mới để thúc đẩy sản xuất, mở rộng thị trường. Kinh tế Thành phố luôn tăng trưởng ở mức cao trong nhiều năm liên tục, giai đoạn 1991 - 1995 tăng 12,6%; giai đoạn 1996 - 2000 tăng 10,1%; giai đoạn 2001 - 2005 tăng 11%; giai đoạn 2006 - 2010 tăng 11,4%; giai đoạn 2011 - 2013 tăng 9,6% và năm 2014 tăng 9,6%; quy mô, tiềm lực và sự đóng góp cho cả nước ngày càng lớn; vai trò đầu tàu kinh tế của khu vực được phát huy, GDP bình quân đầu người liên tục tăng nhanh, giai đoạn 1995 - 1996 là 712 USD; giai đoạn 1996 - 2000 là 1.004 USD; giai đoạn 2001 - 2005 là 1.656 USD; giai đoạn 2006 - 2010 là 3.199 USD; giai đoạn 2011 - 2013 là 4.517 USD/người và năm 2014 là 5.131 USD. Thành phố kiên trì thực hiện phương châm phát triển bền vững, gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, xây dựng môi trường sống ngày càng tốt hơn cho Nhân dân.

Công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch vàphát triển đô thị có nhiều tiến bộ, đã thúc đẩy sự phát triển các lĩnh vực của đời sống xã hội. Quá trình phát triển Thành phố theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa luôn gắn với quy hoạch, quản lý quy hoạch, phát triển đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ đã làm cho đô thị Thành phố có nhiều thay đổi, phát triển vượt bậc; đã tập trung các nguồn lực triển khai thực hiện công tác quy hoạch đô thị, quy hoạch các khu công nghiệp, khu chế xuất, quy hoạch phát triển hệ thống hạ tầng giao thông, hình thành các trục xuyên tâm, trục Bắc Nam, đường vành đai, các tuyến metro, đường trên cao… Các khu đô thị mới như Thủ Thiêm, khu đô thị Cảng Hiệp Phước, khu đô thị Tây Bắc … được đầu tư xây dựng, phát triển hiện đại, hài hòa với tổ chức không gian của Thành phố chương trình di dời và tái định cư các hộ dân sống trên và ven kênh rạch, chương trình xây dựng nhà lưu trú cho công nhân, ký túc xá cho sinh viên, nhà ở xã hội cho người có thu nhập thấp được tập trung thực hiện, điều kiện sống của người dân được cải thiện. Các loại dịch vụ đô thị như cấp điện, nước, thoát nước, vệ sinh môi trường, xử lý nước thải được quan tâm đầu tư, môi trường sản xuất được cải thiện, công nghệ sản xuất sạch hơn được triển khai áp dụng.Do nhận thức đúng và làm tốt công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch đã tạo tiền đề để phát triển đô thị, phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Thành phố ngày càng văn minh, hiện đại, thành đô thị đặc biệt có sức hội tụ và lan tỏa lớn của Vùng và cả nước.

Đời sống Nhân dân được cải thiện, thu nhập từng bước được nâng lên.Đảng không có lợi ích nào khác ngoài mục đích phục vụ lợi ích của Nhân dân, không ngừng nâng cao chất lượng sống của Nhân dân. Đảng bộ Thành phố đã dựa vào Nhân dân để phát động các phong trào thi đua yêu nước, thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội và chăm lo, cải thiện, nâng cao đời sống Nhân dân; Thành phố phấn đấu cơ bản hoàn thành xây dựng nông thôn mới; nơi khởi xướng và thực hiện tốt các phong trào xóa đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, phụng dưỡng Mẹ Việt Nam Anh hùng, xây dựng nhà tình nghĩa, nhà tình thương, chương trình bảo trợ bệnh nhân nghèo; chăm lo cho công nhân, người lao động... mang lại kết quả thiết thực, có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, thể hiện sinh động bản chất tốt đẹp của chế độ.

- Hoàn thành mục tiêu cơ bản Chương trình giảm hộ nghèo giai đoạn 3 (2009 - 2015) trước 2 năm, triển khai có hiệu quả chương trình giảm hộ nghèo giai đoạn 4 (2014 - 2015); đến cuối tháng 9 năm 2014, tổng số hộ nghèo có thu nhập từ 16 triệu đồng/người/năm trở xuống theo chuẩn nghèo của Thành phố còn khoảng 40.300 hộ, chiếm 1,35% tổng hộ dân Thành phố tổng số hộ cận nghèo có thu nhập trên 16 đến 21 triệu đồng/người/năm còn 54.400 hộ, chiếm 2,78% tổng hộ dân Thành phố.

- Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân được quan tâm. Mạng lưới khám chữa bệnh được tập trung đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế được nâng cấp; chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh được cải thiện. Các chính sách y tế cho người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi, các đối tượng chính sách xã hội, người có công được quan tâm và triển khai thực hiện tốt. Đến cuối năm 2014, đạt 14,5 bác sĩ/10.000 dân; 33,7 điều dưỡng/10.000 dân; có 296/318 trạm y tế đạt chuẩn quốc gia, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho Nhân dân.

- Sự nghiệp giáo dục và đào tạo có nhiều tiến bộ, Thành phố là địa phương đi đầu cả nước trong công tác phổ cập giáo dục, đến nay đã hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục bậc trung học; quy mô phát triển giáo dục mở rộng ở các cấp học với gần 1.929 trường học, hơn 1,6 triệu học sinh; đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên được đào tạo và ngày càng vững mạnh, với 76.372 cán bộ và giáo viên trực tiếp tham gia giảng dạy;cơ sở vật chất phục vụ cho dạy và học không ngừng được nâng cấp, ngày càng khang trang, hiện đại đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh…

- Chương trình xây dựng nông thôn mới đạt kết quả cao, các công trình giao thông, thủy lợi, văn hóa - xã hội - y tế, xóa nhà dột nát cho người dân… được tập trung triển khai, bộ mặt nông thôn có sự thay đổi rõ nét. Đến nay có 06/06 xã thực hiện làm điểm đạt 19/19 tiêu chí, 50 xã còn lại bình quân đạt từ 16 đến 18 tiêu chí; đã hỗ trợ xóa 1.446/2.368 (xây dựng mới 1.064, sửa chữa 382) với kinh phí thực hiện hơn 53,622 tỷ đồng.

Năng lực lãnh đạo của Đảng bộ, hiệu lực, hiệu quả quản lý của chính quyền được nâng lên, kỷ cương được tăng cường.Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng bộ không ngừng được nâng cao là nhân tố hàng đầu bảo đảm thực hiệnthắng lợi các nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ và phát triển Thành phố. Đảng bộ Thành phố không ngừng đổi mới phương thức lãnh đạo, đảm bảo vai trò lãnh đạo, nâng cao năng lực và hiệu quả lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị và toàn xã hội, bồi đắp cho sự gắn bó máu thịt của Nhân dân với Đảng, phát huy và khơi dậy tiềm năng, sáng tạo của Nhân dân để xây dựng, bảo vệ và phát triển Thành phố.

- Chất lượng và hiệu quả hoạt động của nhiều tổ chức cơ sở đảng được nâng lên, lãnh đạo giải quyết kịp thời nhiều vấn đề khó khăn, bức xúc của Nhân dân. Chất lượng sinh hoạt chi bộ được nâng cao, tình trạng đơn điệu, nể nang, né tránh, qua loa được khắc phục. Đánh giá chất lượng tổ chức đảng, đảng viên được cải tiến, thực chất.

- Công tác bồi dưỡng, giáo dục, phát triển đảng viên tạo chuyển biến tích cực cả về số lượng, cơ cấu và chất lượng; số tổ chức cơ sở đảng có kết nạp đảng viên, số đảng viên trẻ tuổi, đảng viên nữ và đảng viên là học sinh, sinh viên,… được kết nạp đều tăng.

- Công tác cán bộ được tập trung chỉ đạo đạt kết quả thiết thực ở tất cả các khâu. Công tác quy hoạch, đào tạo, luân chuyển, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ thực hiện đúng quy trình, công khai, đạt hiệu quả rõ rệt; việc đào tạo, tăng cường cán bộ trẻ tuổi, cán bộ nữ, cán bộ xuất thân từ công nhân về cơ sở tiếp tục được thực hiện tốt gắn với các chương trình đào tạo cán bộ của Thành phố.

- Tổ chức bộ máy hành chính Nhà nước từng bước được củng cố, kiện toàn, sắp xếp, khắc phục sự trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao nhận thức chính trị, trình độ chuyên môn, ý thức trách nhiệm phục vụ Nhân dân của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

Dân chủ được mở rộng, vai trò của Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hộiđược phát huy.Thực hành dân chủ, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân là một trong những thành tựu quan trọng. Thành phố tích cực thực hiện sáng tạo nhiều chủtrương, chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm phát huy quyền làm chủ của Nhân dân. Dân chủ trong Đảng, trong hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội được nâng lên. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội phát huy ngày càng tốt hơn vai trò tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cùng với đảng bộ và chính quyền các cấp chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của Nhân dân, vận động Nhân dân tham gia đóng góp xây dựng Đảng, chính quyền, tăng cường mối quan hệ máu thịt của Đảng với Nhân dân.     

Phát huy truyền thống cách mạng kiên cường, đoàn kết, năng động, sáng tạo, Đảng bộ và Nhân dân Thành phố đã tạo ra sự biến đổi to lớn sâu sắc, toàn diện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, mang lại những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, làm nên diện mạo mới cho Thành phố thân yêu. Để Thành phố tiếp tục giữ vững vai trò quan trọng đối với sự phát triển chung của cả nước, Đảng bộ, quân và dân thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và toàn diện hơn nữa; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ phát huy dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, tính năng động, sáng tạo của Nhân dân Thành phố huy động mọi nguồn lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển kết cấu hạ tầng, thích ứng với biến đổi khí hậu; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho Nhân dân; giữ vững ổn định chính trị - xã hội; bảo đảm quốc phòng - an ninh; phấn đấu xây dựng thành phố Hồ Chí Minh văn minh, hiện đại, nghĩa tình; phát triển nhanh và bền vững, đóng góp ngày càng lớn cho cả nước, từng bước trở thành một trung tâm công nghiệp, dịch vụ, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ của khu vực Đông Nam Á, xứng đáng là thành phố mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại./.

BAN TUYÊN GIÁO THÀNH ỦY

 

ĐOÀN KHỐI CƠ SỞ BỘ XÂY DỰNG

Địa chỉ: Lầu 4, Số 14, Kỳ Đồng, F.9, Q.3, TP. HCM
Điện thoại: (08) 22 41 45 92 - Fax: (08) 3 5262560
Website: www.tuoitreboxaydung.vn
Visitors
5
Articles
589
Web Links
9
Articles View Hits
1435047