• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Khánh thành tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Santiago

 
Ngày 4/7, tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được khánh thành tại quận Cerro Navia ở thủ đô Santiago, Chile.
 
Tham dự buổi lễ khánh thành có Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân; Quận trưởng quận Cerro Navia Luis Plaza Sánchez, Chủ tịch Viện văn hóa Chile-Việt Nam Patricia Abarzúa cùng đông đảo người dân địa phương.
 
Phát biểu tại buổi lễ, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân nêu bật tình cảm đoàn kết mà nhân dân Chile dành cho nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, tự do.

 

Cách đây 45 năm, Chủ tịch Thượng viện Chile Salvador Allende đã thăm Việt Nam, giữa lúc nhân dân Việt Nam đang trải qua chiến tranh khốc liệt. Trong chuyến thăm này, ông đã gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cuộc gặp lịch sử đó đã đặt nền tảng cho mối quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa hai nước.

 

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc trước tình cảm thành kính của lãnh đạo và nhân dân Chile nói chung và của quận Cerro Navia nói riêng đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam, đồng thời khẳng định việc đặt tượng Bác tại địa phương này là sự kiện có ý nghĩa quan trọng đối với quan hệ hữu nghị, đoàn kết và hợp tác giữa hai nước.

 

Về phần mình, Quận trưởng Luis Plaza Sánchez bày tỏ niềm tự hào của quận Cerro Navia là nơi đặt tượng Bác. Ông nhắc lại những kỷ niệm của những lần tới thăm Việt Nam, nơi ông đã chứng kiến người dân nơi đây tràn đầy nghị lực và cần cù lao động giúp Việt Nam sớm trở thành một nước phát triển.

 

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân và ông Luis Plaza Sánchez đã cùng kéo tấm vải phủ tượng Bác, chính thức khai trương công trình đánh dấu một mốc mới trong quan hệ hữu nghị và hợp tác hai nước.

 

Những người tham dự buổi lễ đã được thưởng thức một số điệu múa dân gian đặc sắc của Chile do các nghệ sỹ và học sinh quận Cerro Navia trình diễn.

 

Kết thúc buổi lễ, những người tham dự đã đặt hoa dưới chân tượng để bày tỏ lòng tưởng nhớ Bác.

 

Tượng Bác đặt tại công viên mang tên Người nằm ở khu phố Herminda de la Victoria. Công viên này được một nhóm thanh niên thuộc Đảng Cộng sản và Đảng Xã hội Chilê xây dựng từ năm 1969 để bày tỏ tình cảm đoàn kết và sự ủng hộ của nhân dân Chile với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam.


Kể từ khi được xây dựng cách đây 45 năm, tại công viên có một bức tranh ghép từ những mảnh gốm chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh với một số vần thơ trong cuốn "Nhật ký trong tù" của Người./.

Theo TTXVN

 

“Giữ nước từ khi nước chưa nguy” - Giá trị văn hóa giữ nước đặc sắc Việt Nam

1- Hội nghị Trung ương 8 khóa XI của Đảng khẳng định tiếp tục thực hiện những mục tiêu, quan điểm, phương hướng, phương châm chỉ đạo nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc mà Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX đã đề ra, đồng thời bổ sung, phát triển Chiến lược bảo vệ Tổ quốc phù hợp với tình hình hiện nay. Đảng ta chỉ rõ những vấn đề rất cơ bản của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới: “Nắm vững và vận dụng nhuần nhuyễn bài học của ông cha ta: “Dựng nước đi đôi với giữ nước”; “giữ nước từ khi nước chưa nguy”; có kế sách ngăn ngừa, loại bỏ các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa”(1). Phải thực hiện bằng được: “kinh tế phải vững, quốc phòng phải mạnh, thực lực phải cường, lòng dân phải yên, chính trị - xã hội ổn định, cả dân tộc là một khối đoàn kết thống nhất”(2).

Khẳng định việc “giữ nước từ khi nước chưa nguy” là khẳng định một bài học lịch sử, một giá trị văn hóa giữ nước đặc sắc của dân tộc ta; là sự tiếp nối và phát huy giá trị đó, nâng lên với chất lượng mới, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới của cách mạng và sự phát triển của dân tộc Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.

Dựng nước đi đôi với giữ nước là quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc Việt Nam. Quy luật ấy thấm đượm bao mồ hôi, công sức và cả máu xương của lớp lớp thế hệ người Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử. Văn hoá giữ nước cùng nền tảng văn hoá dân tộc, trực tiếp tạo nên sức sống bất diệt của dân tộc ta trước những thử thách cam go, nghiệt ngã của thiên tai và giặc giã. Đó vừa là sản phẩm, vừa là động lực của sự nghiệp giữ nước, của công cuộc kháng chiến chống xâm lược, giải phóng dân tộc, bảo vệ đất nước suốt mấy nghìn năm lịch sử. “Giữ nước từ khi nước chưa nguy” là một giá trị văn hóa giữ nước đặc sắc, được sinh ra và ngày càng khẳng định mạnh mẽ trong lịch sử dân tộc, trở thành một tư tưởng chỉ đạo, triết lý và phương châm hành xử giữ nước của ông cha ta.

2- Trong lịch sử dân tộc, nhân dân ta phải liên tiếp đương đầu chống giặc ngoại xâm, tiến hành hàng chục cuộc kháng chiến để bảo vệ độc lập dân tộc và chủ quyền lãnh thổ, hàng trăm cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng để giành lại độc lập dân tộc, với thời gian chống ngoại xâm và chống đô hộ của nước ngoài lên đến hơn 12 thế kỷ. Hoàn cảnh lịch sử khắc nghiệt đó đã hun đúc nên những giá trị văn hóa giữ nước đặc sắc; đồng thời cho thấy ý nghĩa sống còn của các giá trị văn hóa giữ nước.

Nét đặc sắc của giá trị văn hóa giữ nước đó chính là xây dựng và phát triển đất nước, chăm lo đời sống của nhân dân, củng cố quốc phòng, an ninh, gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia, đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, thực hiện “trong ấm, ngoài yên”, đặc biệt là giữ yên lòng dân; ngăn ngừa, đẩy lùi, triệt tiêu mọi nhân tố dẫn đến nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa, ngay khi đất nước đang thái bình.

Từ thuở bình minh của lịch sử dân tộc, khi bắt đầu đặt nền móng xây dựng một quốc gia độc lập, ông cha ta đã sớm có ý thức phát triển kinh tế gắn với giữ gìn quốc gia, quan tâm đến việc chuẩn bị lực lượng, xây đắp thành luỹ sẵn sàng chống ngoại xâm, bảo vệ đất nước và cuộc sống của mình. Trong kỷ nguyên Đại Việt, ý thức củng cố quốc phòng, bảo vệ đất nước của ông cha ta không những thể hiện ở tinh thần sẵn sàng mà còn được nâng cao lên một trình độ mới. Trước lúc lâm chung, Vua Trần Nhân Tông đã căn dặn: “Nên sửa sang giáo mác đề phòng việc bất ngờ”. Vua Lê Thái Tổ thể hiện rõ ý thức giữ nước trong bài thơ khắc trên vách núi đá Thác Bờ (Hoà Bình): “Biên phòng hảo vị trù phương lược, xã tắc ưng tu kế cửu an”(3) (Biên phòng cần có phương lược tốt, đất nước nên có kế lâu dài), và để lại di chúc cho con cháu: “giữ nước từ khi nước chưa nguy”. Vua Lê Thánh Tông cũng luôn nhắc nhở quân thần: “Phàm có nhà nước tất có võ bị”.

Những tư tưởng, triết lý, chính sách giữ nước của ông cha ta đều được thể hiện cụ thể trong thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức sự nghiệp giữ nước, trong tiến hành chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ đất nước của dân tộc ta; trong thực hiện các chính sách phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, chăm lo đến đời sống của nhân dân, củng cố quốc phòng, gia tăng sức mạnh đất nước. Nét đặc sắc của triết lý “giữ nước từ khi nước chưa nguy” là ở chỗ đó. Các giai đoạn lịch sử sau tiếp tục kế thừa, bổ sung, phát triển và nâng lên tầm cao mới so với giai đoạn lịch sử trước, tạo nên sự phát triển liên tục giá trị văn hóa giữ nước Việt Nam trong sự nối tiếp giữa truyền thống và hiện đại.

Để “giữ nước từ khi nước chưa nguy”, ông cha ta đặc biệt chú trọng thực hiện chủ trương, chính sách hợp lòng dân. Khúc Hạo nêu tư tưởng: “Chính sự cốt chuộng khoan dung, giản dị, nhân dân đều được yên vui”(4), tạo ra cuộc sống “an cư lạc nghiệp” cho dân chúng. Năm 1300, khi Trần Quốc Tuấn ốm nặng, vua Trần Anh Tông đến thăm và hỏi nếu giặc lại sang thì làm thế nào để giữ được nước, Trần Quốc Tuấn trả lời: “Nếu quân giặc sang xâm lược thì phải “xem xét quyền biến, như người đánh cờ vậy, tùy thời tạo thế... Nới sức dân làm kế rễ sâu gốc vững, đó là thượng sách để giữ nước, không còn gì hơn”(5). Ông căn dặn các vương hầu, tướng sĩ: “phải cẩn giữ phép tắc, đi đến đâu không được quấy nhiễu dân”(6). Nguyễn Trãi nêu bật tư tưởng: “Sửa đức để cầu mệnh trời; ngăn quyền hào để nuôi sức dân; cấm phiền hà để dân sống khá, cấm xa xỉ để dân phong túc; dẹp trận cướp để dân ở yên; sửa quân chính để bảo vệ dân sinh... thương nuôi dân mọn”, thực hiện “việc nhân nghĩa” cốt để “yên dân”.

3- “Giữ nước” là bảo vệ, giữ gìn toàn diện tất cả các nội dung, các yếu tố tạo nên giang sơn gấm vóc, tạo nên “sơn hà”, “xã tắc” Việt Nam trong chỉnh thể thống nhất. Đó là bảo vệ, giữ gìn những giá trị truyền thống, hiện tại và bảo đảm cả tương lai phát triển; là bảo vệ, giữ gìn độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia dân tộc, quyền và lợi ích của mọi người dân; là bảo vệ, giữ gìn toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần, giữ gìn những giá trị nhà - làng - nước trong chỉnh thể thống nhất...; là bảo vệ, giữ gìn chế độ xã hội trong mối quan hệ chặt chẽ, tác động biện chứng lẫn nhau. Giữ nội dung này cũng là góp phần giữ nội dung khác và ngược lại; không xem nhẹ hoặc tuyệt đối hóa một nội dung, yếu tố nào của việc “ giữ nước”.

“Giữ nước từ khi nước chưa nguy” là thực hiện nhiệm vụ “giữ nước” trong điều kiện đất nước dựng xây hòa bình, không phải khi có chiến tranh thì mới nói đến giữ nước, mà nhiệm vụ giữ nước luôn gắn liền với nhiệm vụ xây dựng và được thực hiện ngay trong quá trình xây dựng. Trong điều kiện kinh tế phát triển, xã hội ổn định, đất nước thái bình, hưng thịnh, dân giàu, nước mạnh, thì vẫn phải chú trọng và thực tốt nhiệm vụ giữ nước.

4- Hiện nay, chúng ta thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc là bảo vệ độc lập dân tộc, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền đất nước gắn với bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng. Đó là sự kế thừa, phát triển và nâng lên tầm cao mới tư tưởng giữ nước của ông cha ta trong điều kiện lịch sử mới. Không thể nói rằng, ngày nay chúng ta bảo vệ Tổ quốc là “chỉ bảo vệ đất nước, chủ quyền, lãnh thổ quốc gia, không cần phải gắn với bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng”. Đó là quan điểm sai trái và phản khoa học, phi thực tiễn. Mọi sự tách rời, đối lập các mặt, các nội dung trên đều là sai lầm, không đúng với thực chất tư tưởng giữ nước của dân tộc Việt Nam, không đúng với thực chất bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới và sẽ dẫn đến hậu quả nguy hại.

5- Trong tình hình mới, vấn đề lòng dân và làm thế nào để “yên” lòng dân được Đảng ta nhấn mạnh như là yêu cầu cơ bản của việc giữ nước từ khi nước chưa nguy, của việc thực hiện Chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Điều đó cho thấy tầm quan trọng đặc biệt của lòng dân đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Đảng ta đã nhìn trúng và đúng vấn đề, thấy rõ sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh tổng hợp; nhận thức một cách thấu đáo nguồn nội lực, sức mạnh dân tộc, sức mạnh bên trong, khối đại đoàn kết toàn dân tộc là nhân tố quyết định nhất đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong mối quan hệ chặt chẽ với sức mạnh bên ngoài, sức mạnh thời đại.

Sức mạnh tổng hợp bảo vệ Tổ quốc sẽ bị suy yếu, sức mạnh dân tộc sẽ không thể được phát huy, nếu như lòng dân không yên. Lịch sử dân tộc và cách mạng Việt Nam cho thấy, lòng dân có “yên”, thì mới giữ được “trong ấm”, mới có thể phát huy lớn nhất nguồn nội lực, sức mạnh tổng hợp cho sự nghiệp cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. “Lòng người nao núng, thế nước nguy ngập”(7); “Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do, trái lại lúc nào không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn”(8) triết lý giữ nước xưa và nay của dân tộc ta đều thống nhất về sức mạnh của lòng người. Vì thế, thu phục được nhân tâm, lòng dân quy về một mối, xây dựng được “bức thành lòng dân”, thì đó là động lực và sức mạnh cơ bản cho sự hưng thịnh của đất nước, là yếu tố bảo đảm chắc chắn nhất cho sự bền vững của giang sơn. Sự vững chắc của lòng dân cũng là trở ngại lớn nhất đối với những âm mưu và hành động phá hoại, thôn tính của các thế lực bên ngoài. Xao nhãng củng cố nhân tâm, để trăm họ ai oán, lòng dân không yên, ly tán, để cho “chính sự phiền hà", “trăm vạn người trăm vạn lòng”(9), thì đó là nguy cơ mất nước trước mối họa từ bên ngoài.

Thực chất làm cho lòng dân yên là thực hiện “chúng chí thành thành”, tạo nên “bức thành” vững chắc để bảo vệ Tổ quốc. Không thể có “thế trận lòng dân vững chắc” nếu như lòng dân không được yên, xã hội mất ổn định. Hiện nay, các thế lực thù địch đặc biệt chú trọng “công phá” vào lòng dân, làm “nhiễu” lòng dân, làm rối loạn lòng dân với nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt. Chúng ra sức thực hiện những biện pháp “đánh vào lòng người”, hủy hoại cơ sở chính trị - xã hội, gây mất ổn định, làm rối loạn lòng dân, làm cho dân “xa” Đảng, đối lập dân với Đảng. Trong điều kiện đó, vấn đề làm cho dân tin, dân “yên” càng là đòi hỏi bức thiết của tình hình.

Tư tưởng của ông cha: “Chính sự cốt chuộng khoan dung, giản dị, nhân dân đều được yên vui”(10), “không được quấy nhiễu dân”(11), không “khinh động sức dân”; “Sửa đức để cầu mệnh trời; ngăn quyền hào để nuôi sức dân; cấm phiền hà để dân sống khá, cấm xa xỉ để dân phong túc; dẹp trận cướp để dân ở yên; sửa quân chính để bảo vệ dân sinh... thương nuôi dân mọn” (Nguyễn Trãi); khoan thư sức dân lấy kế sâu rễ bền gốc, là thượng sách giữ nước (Trần Hưng Đạo)..., cần được kế thừa và phát huy hơn nữa trong điều kiện lịch sử mới. Biết làm “yên” lòng dân là yêu cầu cơ bản của việc “giữ nước từ khi nước chưa nguy” trong tình hình mới.

Hiện nay, tình hình đang đặt ra những vấn đề cấp bách đòi hỏi chúng ta phải thực hiện hàng loạt vấn đề rất cơ bản để “yên” lòng dân. Đó là phải củng cố hơn nữa mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa. Phải thực hiện chủ trương, chính sách hợp lòng dân, “hết sức làm” những việc gì có lợi cho dân; “hết sức tránh” những việc gì có hại đối với dân. Chăm lo và bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân. Phải kiên quyết đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên. Phải “sớm đưa nền kinh tế ra khỏi tình trạng khó khăn hiện nay, phát triển nhanh và bền vững, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc”(12). Phải kiên quyết và làm tốt hơn việc cán bộ, đảng viên “nêu cao tinh thần trách nhiệm trước Tổ quốc, trước Đảng và nhân dân, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”(13); “Cán bộ cấp trên phải gương mẫu trước cán bộ cấp dưới, đảng viên và nhân dân”(14). Đó là những nội dung và yêu cầu đặc biệt quan trọng để “yên” lòng dân; là yếu tố cơ bản bảo đảm “giữ nước từ khi nước chưa nguy” hiện nay.

Giá trị văn hóa không phải là cố định, nhất thành bất biến, mà nó luôn vận động, phát triển, không ngừng được bổ sung và phát huy trong thực tiễn. Ngày hôm nay phải giàu có, phong phú hơn ngày hôm qua; tương lai được phát triển từ động lực của quá khứ và hiện tại, đồng thời lại bổ sung và làm giàu có, phong phú những giá trị mới. “Giữ nước từ khi nước chưa nguy” - giá trị văn hóa giữ nước đặc sắc của dân tộc Việt Nam sẽ không thể được kế thừa, nâng cao và phát huy tốt, nếu chúng ta không nhận thức đúng và thực hiện tốt trong thực tiễn giữ nước hôm nay./.

--------------------------------------------------

(1), (2) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2013, tr. 168-169

(3) Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử Quân sự Việt Nam, tập 1, Buổi đầu dựng nước, http://lichsuvn.info/forum/ showthread.php?=7.366

(4) Những trang sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam chống phong kiến Trung Quốc xâm lược, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1984, tr. 188

(5) Ngô Sĩ Liên: Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2006, tr. 80

(6) Hoàng Đạo Thuý: Sát Thát, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1958, tr. 55

(7) Lịch sử Việt Nam, quyển 1, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1980, tr. 72

(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t 3, Nxb. Chính trị quốc gia , Hà Nội, 2000, tr. 217

(9) Lịch sử Việt Nam: Sđd, tr. 409

(10) Những trang sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam chống phong kiến Trung Quốc xâm lược, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1984, tr. 188

(11) Hoàng Đạo Thuý: Sđd, tr. 55

(12) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI: Sđd, tr. 170

(13) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 258

(14) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI: Sđd, tr. 258

PGS, TS. Nguyễn Mạnh HưởngViện Khoa học xã hội nhân văn quân sự, Bộ Quốc phòng

Theo TCCS

Đại hội Thanh niên tiên tiến làm theo lời Bác năm 2014: Hành trình theo chân Bác

Sáng ngày 17/05, gần 300 đại biểu là những tấm gương Thanh niên tiên tiến làm theo lời Bác đã làm lễ dâng hương tại Tượng đài Bác Hồ trước Ủy ban Nhân dân Thành phố.
 
Gần 300 tấm gương Thanh niên tiên tiến dâng hương tại tượng Đài Bác Hồ
 

Sau buổi lễ là chuyến tham quan Hành trình theo chân Bác do Thành đoàn Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức. Trong chuyến đi các tấm gương Thanh niên được đi tham quan những nơi mà Bác Hồ đã sinh sống và làm việc trước khi ra di tìm đường cứu nước năm 1911. Trong đó có di tích lịch sử Quốc gia, số 5 Châu Văn Liêm Quận 5. Ngoài ra, các bạn còn được tham quan đường hầm Thủ Thiêm dài nhất Đông Nam Á . Đây là  đường hầm hiện đại nằm trên tuyến Đại lộ Võ Văn Kiệt.

Cùng dâng hoa lên tượng đài Bác

Bạn Lê Hoàng Nam, một trong những tấm gương Thanh niên tiên tiến chia sẻ: Mình cảm thấy rất là tự hào, xúc động và hạnh phúc khi mà ngày hôm nay mình đã được đến đây. Vì bản thân mình trong những năm qua đã có rất nhiều cố gắng trong học tập cũng như là các hoạt động Đoàn của trường và Thành phố. Khi mà từng hàng người thành kính dâng hương cho Bác thì mình cảm thấy cần phải hoàn thiện bản thân hơn nữa, phải có trách nhiệm và cống hiến hết mình cho đất nước.

 

Vào chiều cùng ngày, tại hội trường Nhà văn hóa Thanh niên cũng diễn ra buổi lễ tuyên dương và tôn vinh 37 điển hình Thanh niên làm theo lời Bác xuất sắc nhất được bình chọn từ 273 Đại biểu.

Đồng chí Lâm Đình Thắng  - Phó Bí thư thường trực Thành Đoàn trao giấy khen và giấy chứng nhận và biểu trưng cho các bạn thanh niên tiên tiến.

Các bạn thắp hương tưởng niệm Bác Hồ tại số 5 Châu Văn Liêm, Quận 5 – Nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh.

 

PHẠM DŨNG

Nguồn: Thành đoàn Tp. HCM

“Đạo làm người trong văn hóa Việt Nam”

Ngày 25-4, tại Hà Nội, Đại học Sư phạm Hà Nội đã tổ chức Hội thảo khoa học: “Đạo làm người trong văn hóa Việt Nam”.

Tại Hội thảo, các đại biểu đã thảo luận, trao đổi ý kiến, tập trung vào 3 nội dung chính là: Những vấn đề chung về Đạo làm người, Đạo làm người trong văn hóa Việt Nam, Giáo dục Đạo làm người trong bối cảnh hiện nay.

Đạo làm người là triết lý nhân sinh, phương châm sống của con người, trả lời câu hỏi: “Con người phải sống thế nào cho phải (Đạo)?”. Để có Đạo làm người, trước hết mỗi người phải hoàn thành bổn phận, nghĩa vụ, trách nhiệm của con người đối với gia đình là đạo Hiếu, người công dân đối với đất nước đó là đạo Trung. Yêu nước là tiêu chí hàng đầu của đạo làm người trong văn hóa Việt Nam.

Theo PGS.TS Trần Đăng Sinh (ĐH Sư phạm Hà Nội), đạo Hiếu có thể được hiểu là gốc của mọi giá trị đạo đức xã hội, là thước đo, xác định giá trị con người Việt Nam. Đó là tình cảm tự nhiên của con người, biểu hiện tập trung nhất là sự phụng dưỡng, chăm sóc ông bà, cha mẹ với lòng thành kính và tự hoàn thiện bản thân mình làm cho ông bà, cha mẹ vui lòng; là chuẩn mực đạo đức quan trọng nhất, chi phối các quan hệ khác và các chuẩn mực đạo đức khác trong gia đình. Hiếu là giá trị đạo đức hàng đầu của người Việt Nam, trở thành đạo Hiếu – Đạo Làm người trong truyền thống văn hóa Việt Nam. Trong xã hội hiện đại, đạo Hiếu vẫn giữ vai trò là nền tảng đạo đức, là thước đo giá trị đạo đức của con người trong gia đình Việt Nam.

Trong thời đại ngày nay, để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cần phải giáo dục, xây dựng con người mới. Con người mới phải có ý thức làm chủ, ý thức trách nhiệm công dân; có tri thức, sức khỏe và lao động giỏi; sống có văn hóa và tình nghĩa; giàu lòng yêu nước và tinh thần quốc tế chân chính.

Tiêu chí của Đạo làm người trong xã hội ngày nay đòi hỏi sự phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống có văn hóa, quan hệ hài hòa trong gia đình, cộng đồng và xã hội.

PGS. TS Nguyễn Đình Tường (Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam) cho rằng đạo làm người và giáo dục Đạo làm người cho thế hệ trẻ hiện nay, trước hết, mỗi cá nhân phải tự giáo dục, tu dưỡng nhân cách văn hóa, kỹ năng sống cho chính bản thân mình. Cá nhân vừa là chủ thể, vừa là khách thể trong quá trình tự giáo dục, tu dưỡng, điều mà không ai có thể làm thay được.  Tiếp đó, gia đình có vai trò hết sức quan trọng trong mỗi người, trong quá trình hình thành nên đời sống tình cảm, nghĩa vụ, trách nhiệm đối với bậc sinh thành, đối với những người thân ruột thịt. Trường học cũng là nơi các em lĩnh hội các kiến thức, nhưng đồng thời cũng là nơi giáo dục các em về đạo đức, kỹ năng và nhân cách sống, để các em biết cách sống giữa người với người một cách có văn  hóa, có lý, có tình. Các tổ chức, đoàn thể cần phải tạo ra một môi trường xã hội lành mạnh, có tính giáo dục nhân cách công dân, văn hóa công dân, phải có kỷ cương pháp luật nghiêm minh để hướng các em đến nhận thức và hành động phù hợp với xu thế của thời đại và dân tộc.

Để thực hiện tốt nhiệm vụ, kế thừa phát triển các giá trị về đạo làm người của văn hóa dân tộc, cũng như khắc phục các hiện tượng tiêu cực như đã kể trên, cần phải thực hiện tốt ở vị trí cá nhân, gia đình, nhà trường và xã hội. Cần hướng đến việc tạo ra sự đoàn kết dân tộc, đồng thuận xã hội nhất trí cao nhằm đạt đến những giá trị chung của dân tộc, kết hợp hài hòa những giá trị phổ biến của nhân loại.

Phát biểu tại Hội thảo, GS. Hoàng Chí Bảo (Hội đồng Lý luận Trung ương) nhấn mạnh, trong đạo làm người của Hồ Chí Minh, tỏa sáng đức hy sinh, bền bỉ hành động và nỗ lực thực hành, tất cả chỉ vì dân, vì nước, làm tất cả cho dân có ăn, có mặc, có nhà ở, được học hành, được, chăm sóc sức khỏe, được hưởng tự do độc lập, được tự làm chủ. Người làm gương và nêu gương cho tất cả mọi người, cho tuổi trẻ Việt Nam, phải ham học, đứng ngoài vòng danh lợi, không mảy may dính líu vào vòng danh lợi. Đạo làm người của Hồ Chí Minh là suốt đời tu dưỡng đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân mà Người coi là giặc nội xâm.

Trong thời đại ngày nay, cần phải làm cho việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trở thành nhu cầu văn hóa, nhất là văn hóa đạo đức của mỗi người, mỗi gia đình, mỗi tổ chức, đoàn thể, mỗi cơ sở trong cả nước. Đặc biệt cần thiết và quan trọng là thực hành đạo đức, văn hóa đạo đức, văn hóa chính trị trong Đảng; như sinh thời, Bác Hồ đã nói một điều giản dị “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, “gương mẫu là cách lãnh đạo tốt nhất”, “một tấm gương sống quý hơn hàng trăm bài diễn văn”.

Đạo đức là cốt lõi của đạo làm người, của văn hóa làm người. Đạo đức và văn hóa đạo đức Hồ Chí Minh có tầm vóc tư tưởng, có cả triết lý và chủ thuyết phát triển vô cùng sâu sắc, mới mẻ và hiện đại. Cả tư tưởng và đạo đức của Bác còn uẩn tàng trong đó những giá trị minh triết, với tất cả sự mẫn tiệp, thông tuệ Hồ Chí Minh. Thân dân và chính tâm một cách chân thành, có trí, có tâm, có tình sẽ tạo ra sức mạnh đoàn kết gắn bó ý Đảng, lòng dân, phép nước làm một, với sức đẩy của đoàn kết và đồng thuận trên cơ sở dân chủ đưa dân tộc ta, nhân dân ta, mỗi người chúng tới tới những thắng lợi mới, triển vọng mới.

Bảo Châu

 

Nhớ đồng chí Lê Duẩn - một nhà lãnh đạo kiệt xuất

Nhân kỷ niệm ngày sinh đồng chí Lê Duẩn (7/4/1907), trong không khí của những ngày tháng tư lịch sử, chúng ta nhớ về một nhà lãnh đạo kiệt xuất của Đảng ta - một học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có tầm nhìn xa trông rộng, đóng góp vào việc giải quyết thành công những vấn đề chiến lược liên quan đến vận mệnh nước nhà.

Sinh ra trong một gia đình lao động có truyền thống yêu nước ở Triệu Phong, Quảng Trị, đồng chí đã sớm giác ngộ cách mạng, tham gia phong trào yêu nước từ năm 1926, rồi gia nhập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên năm 1928 và năm 1930 trở thành một trong những đảng viên lớp đầu của Đảng Cộng sản Việt Nam do Bác Hồ sáng lập.

Từ năm 1946 - 1954, đồng chí là Bí thư Xứ ủy, rồi Bí thư Trung ương cục miền Nam, đã lãnh đạo, tổ chức cuộc kháng chiến ở Nam bộ, góp phần vào thắng lợi chung của dân tộc ta trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Sau hiệp định Giơnevơ năm 1954, đồng chí được Trung ương phân công ở lại lãnh đạo phong trào cách mạng miền Nam. Trong điều kiện địch khủng bố ác liệt, đồng chí đã lăn lộn khắp các địa bàn Nam bộ, từ bưng biền đến các đô thị nắm tình hình, củng cố tổ chức Đảng và cơ sở cách mạng. Đồng chí đã khởi thảo bản Đề cương cách mạng miền Nam (8/1956), góp phần chuẩn bị ra đời Nghị quyết 15 của Ban chấp hành Trung ương (7/1959), tạo bước ngoặt cho cách mạng miền Nam.

Với cương vị Bí thư thứ nhất và Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng từ năm 1960 - 1986, đồng chí đã thể hiện vai trò quan trọng trong việc hoạch định đường lối, phương pháp cách mạng, nghệ thuật chiến tranh nhân dân. Như một kiến trúc sư chiến lược của Đảng, đồng chí đã góp phần đưa miền Bắc từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ, làm tròn nhiệm vụ hậu phương lớn của cả nước, đánh bại chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân của đế quốc Mỹ, đồng thời chỉ đạo, tổ chức cuộc chiến đấu ở tiền tuyến lớn miền Nam.

Đánh giá công lao và tài năng đồng chí, Đảng ta khẳng định: “Là một nhà lêninnit chân chính, đồng chí Lê Duẩn luôn luôn suy nghĩ, tìm tòi, xuất phát từ tình hình thực tế, phân tích, giải quyết những vấn đề mới do cuộc sống đề ra. Sự sáng suốt của đồng chí thể hiện nổi bật trước những bước ngoặt của lịch sử và tình huống phức tạp”.

Nhớ đồng chí, chúng ta nhớ một nhà lãnh đạo có tầm lý luận và tư duy sáng tạo, có những quyết sách lớn, chủ trương lớn. Trong chỉ đạo công cuộc kháng chiến cứu nước, đồng chí đã thể hiện tư tưởng dám đánh và quyết thắng; đánh địch bằng sức mạnh tổng hợp, sức mạnh của dân tộc gắn với sức mạnh 3 dòng thác của thời đại. Đánh địch trên 3 mặt trận: quân sự, chính trị, ngoại giao, trên 3 vùng chiến lược: rừng núi, nông thôn đồng bằng và thành thị; bằng 3 mũi giáp công: chính trị, quân sự, binh vận. Theo đồng chí, chiến tranh du kích ở Việt Nam là một hình thức khởi nghĩa của quần chúng, một hình thức tiến công chiến lược của chiến tranh nhân dân. Đồng chí cho rằng: “Trong thời đại ngày nay, chiến tranh có nhiều loại, nhiều quy mô và sử dụng nhiều vũ khí khác nhau; nhưng nói về sức mạnh, thì đáng chú ý nhất là chiến tranh nhân dân và chiến tranh nguyên tử”. Nhiều nhà chiến lược quân sự trên thế giới coi chiến tranh nhân dân Việt Nam là một phát minh mới của thời đại, là câu chuyện thần kỳ của thế kỷ 20.

Nhớ đồng chí, chúng ta nhớ một nhà lãnh đạo luôn chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết nhằm huy động các tầng lớp nhân dân, các tôn giáo, nhân sĩ, trí thức tham gia vào cuộc đấu tranh vì độc lập tự do, thống nhất tổ quốc. Trong “Thư vào Nam”, đồng chí đã đặt vấn đề rất sớm về chính sách đại đoàn kết, chính sách hòa hợp dân tộc, hợp tác lâu dài với tất cả những ai thật sự tán thành hòa bình, hòa hợp dân tộc. Sau giải phóng, đồng chí nhắc phải mở rộng Mặt trận hơn nữa để các thành phần trí thức, tư sản tham gia, phải thực hiện chính sách tự do tín ngưỡng thật sự. Đồng chí luôn căn dặn, làm công tác Mặt trận là phải biết cách thuyết phục bằng lý trí, tình cảm chứ không phải bằng quyền uy. Nguy cơ của Đảng cầm quyền là không tin quần chúng, xa rời quần chúng, chỉ biết làm thầy chứ không biết làm học trò, không biết tôn trọng quần chúng, không hết lòng phục vụ quần chúng.

Nhớ đồng chí, chúng ta nhớ những chỉ đạo sâu sắc về công tác xây dựng Đảng. Đồng chí xem đây là vấn đề cốt tử của một đảng cầm quyền. Cần phải xây dựng cho Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, có phương thức thích hợp lãnh đạo nhà nước, phát huy được quyền làm chủ của nhân dân, tạo động lực cho sự phát triển đất nước. Đồng chí cho rằng muốn xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền phải có phong trào quần chúng. Sau ngày giải phóng, có lần, trong cuộc hội nghị với cán bộ miền Nam, đồng chí bày tỏ sự mong muốn cán bộ phải độc lập, sáng tạo và thẳng thắn hơn nữa. Trong lúc nói chuyện, đồng chí có đặt câu hỏi: “Hiện bây giờ, cấu tạo cấp ủy, cán bộ có phải vì nhiệm vụ cách mạng hay là vì thương lượng với nhau? Tại sao có sai mà không ai dám cãi cả!”.

Đồng chí luôn khuyến khích sự sáng tạo với tinh thần “Chân lý là cụ thể, cách mạng là sáng tạo” và luôn sẵn sàng trao đổi mọi vấn đề, không né tránh. Đối với thanh niên, đồng chí cũng thường xuyên gặp gỡ, đối thoại và luôn nhắc thanh niên phải sống có chí hướng, có hoài bão, không ngừng vươn lên nắm bắt tri thức của loài người và phải noi theo tấm gương của Bác Hồ vĩ đại.

Những vấn đề về phát huy quyền làm chủ của nhân dân với cơ chế Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ đã được đồng chí nung nấu, chỉ đạo. Đồng chí cũng là người phát động quá trình đổi mới tư duy kinh tế từ Hội nghị Trung ương 6, khóa IV.

Nhớ đồng chí, chúng ta nhớ về một con người luôn thể hiện tinh thần cách mạng tiến công, luôn xông pha nơi đầu sóng, ngọn gió, lúc vào Nam, ra Bắc, bất chấp sự khốc liệt của nhà tù đế quốc (11 năm bị tù đày qua các nhà lao khét tiếng như Hỏa Lò, Sơn La, khám lớn Sài Gòn, nhà lao Hải Phòng; 2 lần bị đày ra Côn Đảo). Trong nhà tù, đồng chí là một “giảng viên đỏ” phụ trách việc bồi dưỡng chính trị và tổ chức ra báo trong tù, để lấy đó làm phương tiện học tập và tranh đấu. Đồng chí cho rằng, trong hoàn cảnh tù đày, chết chóc, không có tình cảm nào thiêng liêng, cao cả bằng tình đồng chí.

Nhớ đồng chí Lê Duẩn, là nhớ đến một nhân cách trung thực, giản dị, luôn đồng cam cộng khổ và gần gũi với nhân dân. Một cuộc đời, một chiến sĩ cách mạng kiên cường đã vượt qua mọi thử thách, mọi bão táp của đấu tranh cách mạng. Vượt lên tất cả, đồng chí đã tìm tòi, phát hiện quy luật của chiến tranh, của hòa bình, quy luật kinh tế, văn hóa, tư tưởng, tình cảm. Một con người có cách tư duy chiến lược, có cách vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào cách mạng Việt Nam.

Hãy còn đây, những thư vào Nam qua các thời kỳ, với những chỉ đạo, những tình cảm gửi gắm, những lời động viên, như những hồi kèn tiến công và xung trận để kết thúc chiến tranh, giành toàn thắng.

Hãy còn đây, dấu ấn của một nhà lãnh đạo, lớp cận vệ đầu tiên của Đảng, luôn gắn bó với miền Nam mà các má chiến sĩ ở bưng biền Đồng Tháp Mười đã thầm hiểu rằng: “Lê Duẩn là người của Cụ Hồ ở trong Nam”. Và Nam bộ kháng chiến xứng đáng là “Thành đồng tổ quốc” có vai trò lãnh đạo của đồng chí.

Hãy còn đây, di sản tư tưởng quý giá của đồng chí Lê Duẩn trên các lĩnh vực: triết học, chính trị, kinh tế, văn hóa, quân sự… một tài năng đặc biệt, một trí tuệ đặc biệt, mà cho đến lúc đi xa như vẫn canh cánh bên lòng những chiêm nghiệm về tình thương và lẽ phải.

Thế hệ hôm nay và mai sau sẽ còn nhớ dài lâu về một nhà lãnh đạo như nhà thơ Tố Hữu đã khái quát trong bài “Nhớ về anh”: “Vẫn là anh…/ Chân tình, bình dị/ Vượt khuôn sáo ngôn từ/ Vắt óc trầm tư/ Xóa lối mòn, đào sâu chân lý”.

Với niềm tự hào và lòng biết ơn đối với đồng chí Lê Duẩn cùng những nhà lãnh đạo, những vị tướng tài ba của thời đại Hồ Chí Minh, những anh hùng, liệt sĩ, các tầng lớp nhân dân - những người đã góp máu xương, công sức cho hòa bình, thống nhất, chúng ta sẽ chung sức, chung lòng bảo vệ và dựng xây quê hương, đất nước ngày càng văn minh, hiện đại theo nguyện ước của Bác Hồ kính yêu.

Ngày 7/4, Tỉnh ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Quảng Trị cùng lãnh đạo các sở, ban ngành, đoàn thể và nhân dân trên địa bàn tổ chức lễ dâng hương, hoa tưởng niệm 107 năm ngày sinh Tổng Bí thư Lê Duẩn (7/4/1907 – 7/4/2014) tại Khu lưu niệm Tổng Bí thư ở xã Triệu Thành, huyện Triệu Phong và Đài tưởng niệm Tổng Bí thư tại TP Đông Hà.

Trong ngày, chính quyền và nhân dân huyện Triệu Phong tổ chức giải đua thuyền truyền thống lần thứ 5 trên sông Thạch Hãn và nhiều hoạt động văn hóa - văn nghệ chào mừng 107 năm Ngày sinh Tổng Bí thư Lê Duẩn.

Theo Phạm Phương Thảo (SGGP)

Bác Hồ sống mãi với các dân tộc Tây Nguyên

Sinh thời, Bác Hồ luôn dành cho đồng bào các dân tộc Tây Nguyên tình cảm đặc biệt. Bức thư Người gửi Hội nghị các dân tộc thiểu số miền Nam ngày 19/4/1946 (Pleiku, Gia Lai) đã nói hộ lòng vị Cha già dân tộc: “Đồng bào Kinh hay Tày, Mường hay Mán, Gia Rai hay Êđê, Ba Na, Xê Đăng hay M’nông và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng, khổ, no, đói bên nhau… Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt”. Tấm lòng và niềm tin yêu của Người đối với đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đã không chỉ cổ vũ, truyền thêm sức mạnh cho đồng bào vững niềm tin vào Đảng, đoàn kết đứng lên làm cách mạng, mà còn nhân nguồn sức mạnh nội lực của đồng bào trong hành trình đấu tranh đánh đuổi quân xâm lược, xây dựng và phát triển Tây Nguyên ngày một giàu đẹp.


Không chỉ hướng về Tây Nguyên, luôn theo dõi tin tức của đồng bào Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến, Người còn vui niềm vui vì quân và dân Tây Nguyên đã  "già trẻ, gái trai, Kinh, Thượng đoàn kết một lòng, luôn luôn nêu cao truyền thống anh hùng, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, thi đua diệt giặc, lập công, giữ gìn buôn rẫy, thu được những thành tích to lớn, cùng đồng bào cả nước đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”. Song, để hướng đến thắng lợi trong mùa xuân toàn thắng, theo lời Người, những người con của núi rừng Tây Nguyên đã đoàn kết cần phải tiếp tục đoàn kết hơn nữa; đã vượt qua mọi khó khăn, gian khổ càng phải nỗ lực hơn nữa trong thi đua diệt giặc, lập công, giữ gìn buôn rẫy để cùng đồng bào cả nước đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. 

Đã có không ít người con ưu tú của núi rừng Tây Nguyên được gặp Bác Hồ, trong đó có ông Y Ngông Niê Kđăm; ông KSor Ní; Anh hùng Núp, Thiếu tướng Y Blôk Êban, cụ Y Bih Alêô, ông Ksor Krơn, Nghệ sĩ nhân dân Y Brơm, Nhà giáo ưu tú Nay Hwin, A Vai… Dù là ai, được gặp một lần hay nhiều lần, và cả những người chưa từng một lần được gặp Bác, song niềm kính yêu Người vô hạn vẫn luôn trào dâng. Trong lòng mỗi người vẫn luôn ghi nhớ tình cảm và sự quan tâm của Bác với đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Đó chính là nguồn sức mạnh nội lực để đồng bào Tây Nguyên vượt qua thử thách, nỗ lực chiến đấu với kẻ thù để giành độc lập, tự do như lời cụ Y Bih Alêô, nguyên Phó Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Ủy viên Hội đồng Cố vấn Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam từng khẳng định: “Tình cảm của Bác Hồ đối với các dân tộc Tây Nguyên là sức mạnh vô biên, luôn luôn tràn đầy như nước sông Ba và cao như ngọn núi Cư Yang Sin. Chúng tôi nhớ lời Bác Hồ và uống rượu cần thề với nhau sẽ mãi mãi đi theo con đường của Bác vạch ra để giải phóng quê hương”.

Khắc ghi lời dạy của Bác, suốt hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ và trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên luôn sát cánh cùng đồng bào cả nước một lòng một dạ theo Đảng, theo cách mạng với niềm tin son sắt. Từ trong phong trào thi đua giết giặc, xây dựng làng chiến đấu, góp lương thực nuôi bộ đội, đánh địch bằng hầm chông, bẫy đá, đói cơm, lạt muối, di dời để tránh càn, nuôi giấu cán bộ... đến những tháng ngày vượt qua bão lũ, thực hiện xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, xây dựng đời sống văn hóa ở từng bon, làng… của đồng bào Tây Nguyên đều có hình ảnh Bác Hồ hiện hữu trong tim làm điểm tựa tinh thần và cổ vũ.

Bác Hồ đã đi xa, nhưng tấm lòng và sự quan tâm của Người đối với Tây Nguyên và ngược lại, tấm lòng kính yêu vô hạn của đồng bào Tây nguyên đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn sâu đậm mãi. Đáp ứng lòng mong mỏi của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, công trình Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên đã được xây dựng và khánh thành tại Quảng trường Đại Đoàn kết - trung tâm thành phố Pleiku (Gia Lai) tháng 12/2012. Công trình lịch sử - văn hóa trang nghiêm và thành kính này là một biểu tượng sinh động về tình cảm thiêng liêng của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, đồng thời cũng là di sản văn hóa vô giá để lại cho muôn đời con cháu hôm nay và mai sau. 

Sau một năm khánh thành, theo TTXVN, nơi đây đã đón hơn 23.000 lượt người đến tham quan với tấm lòng thành kính, trong đó, 60 đoàn đại biểu Trung ương và địa phương đến dâng hoa, trồng cây lưu niệm và báo công với vị Cha già dân tộc. Trong những bức tâm thư, trong những dòng báo cáo về tinh thần vượt khó khăn, sự đoàn kết của cộng đồng các dân tộc anh em trên mảnh đất Việt Nam, trong thực hiện Di chúc của Bác về xây dựng một nước Việt Nam đàng hoàng hơn, to đẹp hơn... luôn khôn nguôi nỗi nhớ về Người. Không chỉ có vậy, nơi đây cũng đã diễn ra các hoạt động chính trị, văn hóa nhân dịp các ngày lễ lớn, các buổi biểu diễn ca múa nhạc quần chúng, biểu diễn cồng chiêng Tây Nguyên trong các dịp lễ, tết... phục vụ nhân dân trên địa bàn, góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá truyền thống các dân tộc Tây Nguyên.

Luôn hướng về Người, học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác, cùng với thời gian, được sự quan tâm của Trung ương và địa phương, của nhân dân cả nước nói chung, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên nói riêng, nhất định công trình Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên sẽ được giữ gìn và phát huy giá trị. Bác Hồ sống mãi với Tây Nguyên! Thông qua các hoạt động văn hóa, lễ tuyên dương người tốt, việc tốt, báo công, các đợt dâng hương tưởng niệm Người… giáo dục cán bộ, đảng viên và nhân dân nhất là thế hệ trẻ về truyền thống cách mạng, tấm gương đạo đức cách mạng cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, tận trung với nước, tận hiếu với dân của Bác Hồ, góp phần hun đúc lòng yêu nước, tinh thần cách mạng, đoàn kết, kiên trung, bất khuất của Tây Nguyên nói riêng và cộng đồng các dân tộc Việt Nam nói chung trong hành trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN giàu mạnh và phát triển.

Ths. Lại Thị Ngọc Hạnh - Đại học Tây Nguyên (nguồn: tuyengiao.vn)

35 năm nhìn lại một công trình của thanh thiếu niên Việt Nam

Web.ĐTN - Nhân kỷ niệm 35 năm (1/1/1979 – 1/1/2014), ngày ra đời đoàn tàu chở khách mang tên Đội Thiếu niên tiền phong. Web.ĐTN xin giới thiệu tới bạn đọc công trình của thanh thiếu niên Việt Nam do một cựu cán bộ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh hồi ký lại.

Năm 1978 đất nước gặp thật nhiều khó khăn. Ngành Đường sắt Việt Nam không những thiếu than chạy tàu mà còn thiếu phụ tùng sửa chữa đầu máy toa xe, thiếu phương tiện…Đời sống của CBCNV thực sự khó khăn do thiếu thốn, chậm lương, ăn cơm trộn bo bo...

 

Trong bối cảnh đó, thiếu nhi Thành phố Hồ Chí Minh đã có sáng kiến và được Trung ương Đoàn chỉ đạo phát động trong thiếu nhi toàn quốc phong trào làm kế hoạch nhỏ; thu nhặt 4 triệu tấn giấy loại, đóng đoàn tàu kế hoạch nhỏ mang tên Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh. Nghị quyết Hội nghị lần thứ XXV (mở rộng) của BCH TW Đoàn TNCS Hồ Chí Minh họp vào tháng 1/1978 đã nêu : “…Cần hoàn thành kế hoạch nhỏ thiếu niên tiền phong thu nhặt 4 triệu ki lô gam giấy loại và phát triển lên thành phong trào thiếu nhi góp 4 triệu đồng bằng lao động và tiết kiệm làm đoàn tàu thiếu niên tiền phong chào mừng Đại hội lần thứ IV của Đoàn”.

 

Được sự hỗ trợ của lãnh đạo Tổng cục Đường sắt, Công đoàn Đường sắt và Đoàn thanh niên Đường sắt Việt Nam đã tổ chức triển khai thành công Công trình khôi phục đầu máy; đóng một đoàn tàu chở khách mang tên Đội Thiếu niên tiền phong.

 
Cựu Bí thư T.Ư Đoàn Nguyễn Tiên Phong (bìa phải) cùng các đồng chí lãnh đạo Tổng Cục đường sắt và các bạn thanh thiếu nhi tại Lễ khởi động đoàn tàu
 
Ngày 19-5-1978, ông Trần Mẫn, Tổng cục trưởng TCĐS đã cùng đồng chí Nguyễn Tiên Phong, Bí thư TƯ Đoàn ký Nghị quyết liên tịch về việc ngành Đường sắt thực hiện Công trình đóng Đoàn tàu mang tên Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh. Tổng cục Đường sắt đã chọn cử nhiều kỹ sư toa xe giỏi nghiên cứu thiết kế toa xe phù hợp điều kiện nguyên vật liệu và khả năng chế tạo trong nước lúc đó. Trong một thời gian ngắn, các bản vẽ thiết kế tổng thể, thiết kế chi tiết được tập thể kỹ sư thiết kế toa xe hoàn thiện và trực tiếp chỉ đạo việc đóng mới đoàn xe tại Nhà máy xe lửa Dĩ An. Đoàn tàu này gồm 15 toa xe, có 3 toa giường nằm, 9 toa xe ghế ngồi, 1 toa xe hàng cơm, 1 toa xe hành lý, 1 toa xe trưởng tàu.
 

Công trình khôi phục lại chiếc đầu máy hơi nước Tự lực số 141-215 bị hư hỏng nặng được lãnh đạo Nhà máy xe lửa Gia Lâm giao cho Đoàn Thanh niên nhà máy chủ trì phối hợp triển khai. Cuối năm 1978, khi chiếc đầu máy hơi nước 141-215 chạy thử trên hành trình Gia Lâm – Hải Dương trước khi hoàn thiện; Trung ương Đoàn đã giao cho Tỉnh Đoàn Hải Dương tổ chức lễ đón trang trọng tại thị xã Hải Dương. Ngày 1-1-1979, chuyến tàu khánh thành đón đông đảo đại biểu Trung ương, ngành đường sắt và thanh thiếu nhi từ Hà Nội đi Bắc Giang.

 

Đoàn tàu kế hoạch nhỏ Thiếu niên tiền phong là sản phẩm mong ước tiết kiệm của thiếu nhi Việt Nam, sản phẩm của ý chí tự lực tự cường, khắc phục khó khăn của hàng nghìn kỹ sư, công nhân trẻ ngành đường sắt mà chủ yếu là những đoàn viên thanh niên ở 3 đơn vị: Cục đầu máy toa xe (Phòng Thiết kế), Nhà máy xe lửa Gia Lâm, Nhà máy xe lửa Dĩ An.

 

Báo Nhân dân số ra ngày 1-1-1979 đã đăng bài viết như sau:

 

“… Cho đến hôm nay, thiếu nhi thu nhặt gần 3 triệu tấn giấy loại, gần 95.000 kg các loại vật liệu khác; 94.000 kg thóc rơi, chăn nuôi được gần 152.000 con gia súc, gia cầm. Ở 18 tỉnh và thành phố, các em đã gửi vào tài khoản số 549 gần 681.000 đồng; dẫn đầu là thiếu nhi Thành phố Hồ Chí Minh gửi 300.000 đồng, thiếu nhi Hà Nội gửi 106.000 đồng.

 

Việc đóng đoàn tàu Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh được thực hiện ngoài kế hoạch năm 1978. Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và Công đoàn ngành đường sắt phát động phong trào 40 nghìn ngày công lao động sáng tạo đóng góp cho Đoàn tàu Thiếu niên Tiền phong, Đoàn thanh niên đường sắt nhận việc đóng đoàn tàu là một Công trình thanh niên và giao cho Đoàn thanh niên Cục đầu máy toaxe, Nhà máy xe lửa Gia Lâm, Nhà máy xe lửa Dĩ An đảm nhận việc thiết kế và thi công.

 

Cán bộ, đoàn viên thanh niên chi đoàn Phòng thiết kế (Cục Đầu máy toa xe) lao động khẩn trương và sáng tạo, hoàn thành bản vẽ tổng thể thiết kế trong 3 tuần. Đoàn thanh niên Nhà máy xe lửa Gia Lâm góp gần 1.000 công lao động cộng sản chủ nghĩa. Đầu máy hơi nước 141-215 của các em được hoàn thành trong gần 80 ngày, xong trước thời hạn 45 ngày, tiết kiệm 265 công. Thanh niên công nhân Nhà máy xe lửa Dĩ An làm thêm mỗi ngày 4 giờ, nhận những việc khó khăn nhất: sản xuất và lắp đặt các thiết bị điện, nước, trang trí mỹ thuật toa xe. Các toa xe đều có chiều dài 20,6m. Toa xe được thiết kế thoáng mát, hợp với khí hậu nhiệt đới, kết cấu thùng bệ là kết cấn gân (loại kết cấu tiên tiến hiện nay); cửa sổ dùng kết cấu đối trọng mở dễ dàng, phòng tránh được tai nạn .v..v..Các toa đều sơn màu trang nhã, trang bị hiện đại, đủ tiện nghi cho khách đi tàu trên chặng đường sắt….”.

 

Sau 35 năm nhìn lại thành công của công trình Thanh niên này, chúng ta có thể thấy được bài học kinh nghiệm rất đáng tự hào và ghi nhớ :

Đây là sản phẩm của tình yêu nước, là sáng kiến của thanh niên, thiếu niên Việt Nam, được sự hưởng ứng thực sự tự giác, nhiệt tình của thanh thiếu nhi cả nước.

 

Đây là kết quả của sự lãnh đạo đồng bộ, dứt điểm từ lãnh đạo chuyên môn, Công đoàn, Đoàn Thanh niên Tổng cục ĐS đến lãnh đạo chuyên môn, Công đoàn và Đoàn cơ sở. Lần đầu tiên trong một thời gian ngắn, cán bộ công nhân đường sắt – chủ yếu là những người thợ Xe lửa Dĩ An đã hoàn thành sản phẩm đóng mới đồng bộ một đoàn xe lửa chở khách. Đoàn tàu này đã được đưa vào khai thác phục vụ cho hành khách trên tuyến đường sắt Hà Nội – Thành phố Hồ Chí Minh, bảo đảm “an toàn, chu đáo, lịch sự.” lời kết luận của đoàn kiểm tra của Trung ương Đoàn cùng 60 đội viên TNTP vào năm 1979, sau khi đoàn xe đã chạy trên 50 chuyến.

 

Đây là thành quả của việc tổ chức, tập hợp thanh niên xung kích trên mặt trận lao động sản xuất, hoàn thành vượt tiến độ công trình đề ra, đảm bảo chất lượng.Cán bộ BCH Đoàn các cơ sở đều bám sát công trình, là tấm gương tích cực, sáng tạo cho thanh niên; Đoàn viên TN Đường sắt Việt Nam lúc đó đều sẵn sàng làm thêm giờ, tình nguyện làm thêm vào ngày chủ nhật. Bức trướng của Trung ương Đoàn tặng Đoàn Thanh niên Nhà máy xe lửa Gia Lâm được thêu các hàng chữ :Lao động hăng say / Cùng đàn em nhỏ/ Hoàn thành đoàn tàu/ Rực rỡ chiến công.

 

Đây cũng là thành công của một phong trào toàn quốc, tạo nên sự gắn bó  phối hợp chặt chẽ của phong trào thanh thiếu nhi các tỉnh thành phố với thanh niên đường sắt.Nhà thiếu nhi Hà Nội đã cử Đội văn nghệ sang Nhà máy xe lửa Gia Lâm biểu diễn phục vụ công nhân; Tỉnh ĐoànSông Bé,và nhất là huyện đoàn Thuận An động viên thanh thiếu nhi hỗ trợ Đoàn Thanh niên xe lửa Dĩ An thực hiện công trình. Trung ương Đoàn đã quyết định tặng thưởng nhiều Huy chương Vì thế hệ trẻ cho nhiều tập thể và cá nhân trong ngành đường sắt có thành tích xuất sắc trong công trình.

 

(Khuất Minh Trí - Nguyên Bí thư Đoàn TN nhà máy xe lửa Gia Lâm), HS
 

ĐOÀN KHỐI CƠ SỞ BỘ XÂY DỰNG

Địa chỉ: Lầu 4, Số 14, Kỳ Đồng, F.9, Q.3, TP. HCM
Điện thoại: (08) 22 41 45 92 - Fax: (08) 3 5262560
Website: www.tuoitreboxaydung.vn
Visitors
4
Articles
579
Web Links
9
Articles View Hits
1389102