• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Kế hoạch tổ chức kỷ niệm các ngày lễ lớn trong hai năm 2014 – 2015

Theo kế hoạch, đối với các ngày lễ quy mô cấp quốc gia, cụ thể gồm: Ngày lễ lớn do Ban Tổ chức cấp quốc gia chủ trì tổ chức, giao Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì xây dựng Đề án trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, gồm: kỷ niệm 60 năm Ngày Chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954 – 7/5/2014) (đã tổ chức); kỷ niệm 40 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2015); kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh (1/7/1915 – 1/7/2015); kỷ niệm 70 năm Ngày Cách mạng Tháng Tám (19/8/1945 – 19/8/2015) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 – 2/9/2015).


Ngày lễ lớn do các Bộ chủ trì tổ chức, chủ trì xây dựng Đề án, báo cáo Thủ tướng Chính phủ, gồm: Bộ Ngoại giao được giao chủ trì tổ chức kỷ niệm 60 năm Ngày ký Hiệp định Giơ-ne-vơ về hòa bình ở Việt Nam, Đông Dương (Hiệp định về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam) (20/7/2954 – 20/7/2014); Bộ Quốc phòng được giao chủ trì tổ chức kỷ niệm 70 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 – 22/12/2014) và 25 năm Ngày hội quốc phòng toàn dân (22/12/1989 – 22/12/2014); Bộ Công an được giao chủ trì tổ chức kỷ niệm 70 năm Ngày thành lập Công an nhân dân (19/8/1945 – 19/8/2015) và 10 năm Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc (19/8/2005 – 19/8/2015).

Ngày lễ lớn do UBND thành phố Hà Nội chủ trì tổ chức, chủ trì xây dựng Đề án, báo cáo Thủ tướng Chính phủ, gồm: Kỷ niệm 60 năm Ngày Giải phóng Thủ đô (10/10/1954 – 10/10/2014); kỷ niệm 85 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 – 3/2/2015); Trừ những ngày kỷ niệm lớn đã được tổ chức, thì các ngày lễ quy mô cấp Bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương bao gồm kỷ niệm ngày sinh của các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước, lãnh đạo tiền bối tiêu biểu; phong trào cách mạng; sự kiện tiêu biểu và ngày truyền thống, ngày thành lập ngành.

Ngày giải phóng, ngày thành lập tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương sẽ được thực hiện như sau: Tỉnh Phú Thọ được giao chủ trì tổ chức Giỗ Tổ Hùng Vương (mùng 10 tháng 3 năm Ất Mùi – 2015).  Tỉnh Nghệ An được giao chủ trì tổ chức kỷ niệm 85 năm Ngày Xô Viết Nghệ Tĩnh (12/9/1930 – 12/9/2015). Thành phố Hồ Chí Minh được giao chủ trì tổ chức kỷ niệm 75 năm Ngày khởi nghĩa Nam Kỳ (23/11/1940 – 23/11/2015). Kỷ niệm ngày thành lập, ngày giải phóng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: thực hiện theo quy định tại Nghị định số 145/2013/NĐ-CP ngày 29/10/2013 của Chính phủ quy định về tổ chức ngày kỷ niệm; nghi thức trao tặng, đón nhận hình thức khen thưởng, danh hiệu thi đua; nghi lễ đối ngoại và đón, tiếp khách nước ngoài. Kỷ niệm ngày truyền thống của các Bộ, Ban, ngành, đoàn thể Trung ương: thực hiện theo quy định tại Nghị định số 145/2013/NĐ-CP ngày 29/10/2013 của Chính phủ quy định về tổ chức ngày kỷ niệm; nghi thức trao tặng, đón nhận hình thức khen thưởng, danh hiệu thi đua; nghi lễ đối ngoại và đón, tiếp khách nước ngoài. 

Kỷ niệm Ngày sinh của các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước, lãnh đạo tiền bối tiêu biểu: tỉnh Bắc Ninh được giao chủ trì tổ chức kỷ niệm 110 năm Ngày sinh đồng chí Hoàng Quốc Việt (28/5/1905 – 28/5/2015). Việc tổ chức kỷ niệm 70 năm Ngày Nam Bộ kháng chiến (23/9/1945 – 23/9/2015); 55 năm Ngày thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (20/12/1960 – 20/12/2015) và các ngày lễ lớn khác không nêu trong Kế hoạch này, do Ban Bí thư quyết định.

Theo Kế hoạch, việc tổ chức kỷ niệm các ngày lễ lớn được triển khai với hình thức trang nghiêm, trọng thể phù hợp với quy mô, tầm mức của sự kiện; công tác tuyên truyền cần đa dạng, phong phú, phù hợp, có trọng tâm, trọng điểm; bảo đảm thiết thực, an toàn, tiết kiệm, hiệu quả; có sự thống nhất, đồng bộ trong chỉ đạo công tác tổ chức kỷ niệm.

Việc tổ chức kỷ niệm các ngày lễ lớn trong hai năm 2014 - 2015 nhằm bồi dưỡng, phát huy hơn nữa lòng yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần đoàn kết, niềm tự hào và ý chí tự cường của dân tộc; củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, tạo không khí phấn khởi, sự đồng thuận trong xã hội, cổ vũ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI, tiến tới thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng.

Việc tổ chức kỷ niệm các ngày lễ lớn được triển khai với hình thức trang nghiêm, trọng thể phù hợp với quy mô, tầm mức của sự kiện; công tác tuyên truyền cần đa dạng, phong phú, phù hợp, có trọng tâm, trọng điểm; bảo đảm thiết thực, an toàn, tiết kiệm, hiệu quả; có sự thống nhất, đồng bộ trong chỉ đạo công tác tổ chức kỷ niệm../.

TG
 

Đảng bộ Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng tổng Hợp phổ biến kết quả Hội nghị Trung ương 9 khóa XI và thông tin thời sự cho cán bộ, đảng viên.

Ngày 24/6/2014, Đảng bộ Công ty cổ phần Tư vấn Xây dựng Tổng Hợp (Nagecco) đã tổ chức thông báo kết quả Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 9 khóa XI và phổ biến thông tin thời sự cho gần 100 đảng viên, cán bộ chủ chốt trong toàn Đảng bộ. Đồng chí Nguyễn Kiên Cường - Bí thư Đảng ủy Công ty chủ trì Hội nghị.

Tại Hội nghị, đồng chí Nguyễn Xuân Ngọc – ĐUV, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Đảng ủy Khối đã thông báo đến các đại biểu kết quả Hội nghị Trung ương 9 khóa XI. Theo đó, từ ngày 8 - 14/5/2014, tại Thủ đô Hà Nội, Hội nghị lần thứ 9, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp bàn về các nội dung chủ yếu: Tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Quy chế bầu cử trong Đảng; Đánh giá, rút kinh nghiệm và tiếp tục thực hiện chủ trương lấy phiếu tín nhiệm đối với thành viên lãnh đạo cấp uỷ và cán bộ lãnh đạo trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội; Tổng kết thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND cấp huyện, quận, phường theo Nghị quyết Trung ương 5 khóa X và Nghị quyết 26 của Quốc hội khóa XII…

Đồng chí Tô Đại Phong - Giám đốc Trung tâm công tác tư tưởng Thành phố (Ban Tuyên giáo Thành ủy) thông tin về tình hình thời sự trong nước và quốc tế, về việc Trung Quốc ngang nhiên đặt giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, những giải pháp của Đảng, Nhà nước ta trong việc yêu cầu Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương 981 ra khỏi vùng biển của nước ta.

Kết luận Hội nghị, đồng chí Nguyễn Kiên Cường đề nghị các chi bộ trực thuộc Đảng bộ sau khi có hướng dẫn từ Đảng ủy Khối thì chỉ đạo việc quán triệt, học tập Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 (khóa XI) một cách nghiêm túc, sâu sắc, đầy đủ để từ đó định hướng trong lãnh đạo, chỉ đạo sát với tình hình nhiệm vụ thực tế của từng đơn vị.Xây dựng tổ chức đảng ngày càng trong sạch vững mạnh, xây dựng và phát triển công ty ngày càng văn minh, hiện đại phù hợp với văn hoá dân tộc và hội nhập quốc tế./.

Lê Anh

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH - NHÀ BÁO BÌNH DỊ MÀ VÔ CÙNG VĨ ĐẠI

TCTN - Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà báo đặc biệt nhất với gần 200 bút danh khác nhau, viết trên dưới 2000 bài báo và là nhà báo đạt đến vị trí lãnh tụ tối cao của một dân tộc.

Đồng thời Bác cũng là nhà báo duy nhất được Liên Hợp Quốc tôn vinh là Danh nhân văn hóa của thế giới…Chỉ bấy nhiêu thôi cũng giúp chúng ta thấy được sự phi thường của nhà báo Hồ Chí Minh. Người thầy vĩ đại nhất của báo chí cách mạng Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, người thầy vĩ đại của báo chí cách mạng Việt Nam. Ảnh tư liệu

Tuy mang một tầm vóc vĩ đại, lớn lao như vậy nhưng nhà báo Hồ Chí Minh lại có một phong cách viết giản dị gần gũi với một văn phong đa dạng mà không kém phần sâu sắc. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong tác phẩm: “Hồ Chí Minh một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp” đã viết: “Hồ Chí Minh một nhà chiến lược, nhà lãnh đạo đồng thời là nhà văn hóa, nhà báo. Suốt cuộc đời Hồ Chí Minh là người luôn chiến đấu trên mặt trận văn hóa, báo chí với một văn phong đa dạng nhiều sắc thái mà nổi bật lên tính quần chúng, cách suy nghĩ và biểu đạt dân gian, dễ hiểu, đi sâu vang vọng trong lòng người, gợi mở những tư tưởng lớn lao, thúc đẩy những việc làm tốt đẹp, bằng những lời lẽ giản dị giàu hình tượng, nói lên được điều lớn bằng những dòng chữ nhỏ…”. Ý chí chiến đấu mạnh mẽ và cái TÂM rộng lớn, sâu sắc của Bác cũng là điều cần nhất cho bất kỳ một nhà báo nào khi cầm bút.

Bài học đó vẫn vẹn nguyên giá trị đối với mọi thế hệ nhà báo Việt Nam hôm nay. Tại Trường Chính Đảng Trung ương ngày 17-8-1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn, trước khi viết phải tự hỏi: “Vì ai mà mình viết? Mục đích viết là gì?”. Với nguyên tắc “viết cho ai”, nên ngôn ngữ báo chí của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đạt đến trình độ của một lăng kính đa chiều, luôn hấp dẫn và mới mẻ. Thời kỳ sống và hoạt động ở căn cứ Việt Bắc, những bài báo của Người chủ yếu viết cho đồng bào miền núi đọc, nên ngôn từ rất mộc mạc, dễ hiểu. Viết cho thanh niên, Bác dùng ngôn ngữ của lớp trẻ. Viết cho thiếu nhi Bác dùng cách dẫn dụ mộc mạc của ngôn từ trẻ thơ. Viết cho nông dân Bác dùng ngôn ngữ của dân quê... Phong cách viết của nhà báo Hồ Chí Minh là sự hiểu biết rất rộng, rất sâu mà lại rất gần gũi quần chúng. Với nhà báo Hồ Chí Minh, ngòi bút luôn là một “Phương tiện để phò chính, trừ tà”,  Bác căn dặn: “Báo chí của ta thì cần phải phục vụ nhân dân lao động, phục vụ chủ nghĩa xã hội, phục vụ cho đấu tranh thực hiện thống nhất đất nước và cho hòa bình thế giới”. Bác nêu những khuyết điểm của báo chí ta thời đó là: “Tuyên truyền không kịp thời, chính trị suông quá nhiều, không biết giữ bí mật, đôi khi đăng tin vịt, tờ báo không vui...”. Đã trải qua hơn nửa thế kỷ mà những điều Bác nói như vừa mới hôm qua! Đọc tác phẩm văn chương nói chung và tác phẩm báo chí nói riêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ta thấy Bác đã sử dụng một cách điêu luyện nghệ thuật ngôn từ trong tác phẩm của mình. Và Bác cũng đã có những ý kiến phê phán sâu sắc lỗi sử dụng ngôn từ của nhiều nhà báo đó là: “Lỗi dài dòng, rỗng tuếch…” “Lỗi “cầu kỳ…”, “Lỗi khô khan…”, “Lỗi cẩu thả…”. Bác nhắc nhở các nhà báo: “Không biết rõ, hiểu rõ, chớ nói, chớ viết. Không có gì cần nói, không có gì cần viết, chớ nói, chớ viết càn”.

Bác Hồ đã đi vào cõi vĩnh hằng đã mấy chục năm nhưng tư tưởng và sự nghiệp báo chí của Bác luôn là kim chỉ nam cho những người làm báo trong thời kỳ đổi mới học tập và noi theo. Chúng ta luôn luôn ghi nhớ công lao của nhà báo vĩ đại Hồ Chí Minh đồng thời cũng ghi nhớ thêm rằng, phong cách và tinh thần, tư tưởng và ý chí, tâm huyết và ngòi bút mẫn tiệp, sắc sâu của Bác vẫn sống mãi với sự tươi mới của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa. Vững bền trường tồn với thời gian, vượt qua mọi không gian để có những thế hệ làm báo như hôm nay được bạn bạn bè quốc tế tin yêu và mến phục.

HOÀNG BÍCH HÀ

Hồ Chí Minh và con đường ngoại giao để hòa bình

Trong tình thế ngặt nghèo sau khi giành độc lập tháng 8/1945, phải đối phó căng thẳng với âm mưu “Hoa quân nhập Việt” để “Diệt cộng cầm Hồ” của quân đội Tưởng, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn tuyên bố: “Hai nước Trung Hoa và Việt Nam có liên lạc với nhau về kinh tế và chính trị thì hai dân tộc không thể không có sự tương trợ, tương thân”. Nhưng khi Lư Hán đòi cấp thêm gạo cho đội quân của ông ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thẳng thừng bác bỏ vì nhân dân Việt Nam còn đang trải qua nạn đói trầm trọng.

LTS: Nhân kỷ niệm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2014), VietNamNet giới thiệu bài viết của TS Ngô Vương Anh về tư tưởng Hồ Chí Minh trong đấu tranh ngoại giao hòa bình:

Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là một trong số ít lãnh tụ cách mạng nhận thức được sự chuyển biến của thời đại sẽ làm thay đổi quan hệ giữa các quốc gia dân tộc trên phạm vi toàn cầu. Người coi đấu tranh thiết lập quan hệ bình đẳng giữa các quốc gia, chống lại mọi sự áp đặt, thống trị bất công của các “nước lớn” cũng là sự hoàn chỉnh của công cuộc giải phóng dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh “Việt Nam muốn xây dựng quan hệ hữu nghị dựa trên cơ sở bình đẳng và tôn trọng quyền lợi lẫn nhau” với Pháp nhưng “kiên quyết chống bọn thực dân Pháp đang chuẩn bị và bắt đầu chiến tranh xâm lược”.

Với các nước láng giềng thì “hợp tác bình đẳng để sánh vai ngang hàng cùng tiến hóa”, với các “nước lớn” thì “sẵn sàng hợp tác thân thiện trên nguyên tắc bình đẳng, ủng hộ lẫn nhau” (Thông cáo về chính sách đối ngoại của Việt nam Dân chủ Cộng hòa, 3/10/1945) được coi là những nguyên tắc quan trọng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng Hải ngoại Pháp Marius Moutet ký bản tạm ước Việt - Pháp ngày 14/9/1946. Ảnh tư liệu

Trong việc đoàn kết với nhân dân các nước láng giềng, Hồ Chí Minh luôn hướng tới đại cục, vì lợi ích lâu dài của mỗi nước, phù hợp với đặc điểm tình hình và tôn trọng quyền tự quyết của mỗi dân tộc nhằm tạo lập ổn định bên ngoài để thực hiện mục tiêu chiến lược của cách mạng trong nước.

Cần nhớ lại rằng, trong tình thế ngặt nghèo sau khi giành lại được độc lập tháng 8/1945, phải đối phó căng thẳng với âm mưu “Hoa quân nhập Việt” để “Diệt cộng cầm Hồ” của quân đội Tưởng, Hồ Chí Minh vẫn tuyên bố: “Hai nước Trung Hoa và Việt Nam có liên lạc với nhau về kinh tế và chính trị thì hai dân tộc không thể không có sự tương trợ, tương thân” (Báo Cứu quốc, ngày 8/10/1945). Nhưng khi Lư Hán đòi cấp thêm gạo cho đội quân của ông ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thẳng thừng bác bỏ vì nhân dân Việt Nam còn đang trải qua nạn đói trầm trọng.Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn cố gắng dùng con đường ngoại giao để tranh thủ hoà bình. “Chúng ta muốn hòa bình chúng ta phải nhân nhượng...” (Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, 19/12/1946). Cả khi buộc phải cầm vũ khí chiến đấu thì thương lượng hoà bình vẫn là một trong những giải pháp Người cố gắng đạt được.

Với cái nhìn khoan dung văn hóa và một văn hóa khoan dung ngời sáng, Hồ Chí Minh luôn tìm được và nhấn mạnh những điểm tương đồng, những mẫu số chung - là điều có thể đưa những người đối thoại xích lại gần nhau, chấp nhận thoả hiệp và nhân nhượng để tìm được tíếng nói chung, để có thể đi chung một con đường thậm chí chỉ một đoạn đường - hướng tới cái đích chung trong khi vẫn bảo lưu những cái khác biệt. Những điểm chung đó là những giá trị mang tính phổ quát: những nguyên tắc đạo đức, lòng nhân, tính thiện, tình yêu tự do, khát vọng độc lập dân tộc...

“Tuy phong tục mỗi dân mỗi khác, nhưng có một điều thì dân nào cũng giống nhau. Ấy là dân nào cũng ưa sự lành ghét sự dữ”. Cũng với phương châm tìm ra những điểm tương đồng làm cơ sở để thu nhận những giá trị, để hoà đồng, để phát triển tình hữu nghị, Hồ Chí Minh là người đưa bàn tay hữu nghị thân ái của nhân dân Việt Nam tới với các dân tộc khác, các nền văn hoá khác.

Với đối phương, những luận điểm của Người cũng đầy tính thuyết phục: “Các bạn yêu nước Pháp của các bạn và muốn nó độc lập... Nhưng chúng tôi cũng phải được phép yêu nước của chúng tôi và muốn nó độc lập chứ! Chúng tôi cũng phải được phép yêu đồng bào chúng tôi và muốn họ được tự do chứ! Cái mà các bạn coi là lý tưởng cũng phải là lý tưởng của chúng tôi".

Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam đã tập hợp được sự ủng hộ rộng lớn của loài người tiến bộ, đã hình thành măt trận rộng rãi của nhân dân thế giới ủng hộ cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam, trong đó có cả nhân dân Pháp và nhân dân Mỹ, vì cuộc chiến đấu chính nghĩa của chúng ta mang những ý nghĩa nhân văn sâu sắc, bảo vệ những giá trị thiêng liêng trong lương tâm của nhân loại.

Nhà nghiên cứu Mỹ David Halberstam viết: “Cụ Hồ Chí Minh chẳng những đã giải phóng đất nước mình, đã thay đổi chiều hướng của chế độ thuộc địa ở châu Á lẫn châu Phi mà Cụ còn làm được một điều đáng chú ý hơn: dùng tới văn hoá và tâm hồn kẻ địch để chiến thắng”.

Trong tư tưởng và mọi hoạt động ngoại giao, Hồ Chí Minh luôn “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn / Lấy chí nhân mà thay cường bạo”. Chúng ta bất khuất, kiên cường chống chiến tranh xâm lược nhưng luôn mở cánh cửa cho quân viễn chinh rút khỏi Việt Nam Khi đã đánh bại ý chí xâm lược của kẻ thù, chúng ta vẫn đại lượng mở lòng hiếu sinh tha cho quân xâm lược trở về quê cũ trong bình yên để tránh đổ máu thêm cho hai dân tộc. Tổng binh Vương Thông và mười vạn tàn quân Minh đã trở về nước năm 1428 trong tình thế đó.

“Nghĩ về kế lâu dài của nhà nước
Tha cho kẻ hàng mười vạn sĩ binh
Sửa hoà hiếu cho hai nước
Tắt muôn đời chiến tranh” .

Toàn bộ quân viễn chinh, cố vấn quân sự và tù binh Mỹ cũng ra khỏi Việt Nam tháng 3/1973 như thế.

Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, “cái bất biến” là độc lập cho dân tộc, thống nhất cho Tổ quốc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân - đó là những điều bất khả xâm phạm. “Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy” (Tuyên ngôn độc lập).

Linh hoạt, sáng tạo “ứng vạn biến” trong những giai đoạn nhất định để đạt được mục tiêu đưa cách mạng tiến lên nhưng tuyệt đối không được làm tổn hại đến “cái bất biến” là mục tiêu lâu dài. Ngoại giao Việt Nam hôm nay đang tiếp nối những điều đó, phấn đấu cho hòa bình, cùng phát triển với các nước khác trong hòa bình, ổn định, độc lập và tôn trọng chủ quyền.

TS Ngô Vương Anh

Nguồn: vietnamnet.vn

Điều ít biết về Tô Vĩnh Diện

Điện Biên phủ, Tô Vĩnh Diện

Sau 8 tháng huấn luyện ở Trung Quốc, tháng 12 năm 1953, Tô Vĩnh Diện cùng đơn vị về nước và ngay lập tức hành quân lên Điện Biên Phủ để chuẩn bị tham chiến.

Tôi trở lại Điện biên sau hơn 10 năm. 

Sở chỉ huy Mường Phăng, hầm De Castries, đồi A1, các nghĩa trang.. đều khang trang sạch đẹp chuẩn bị cho ngày kỷ niệm 60 năm chiến thắng Điện Biên Phủ.

Điện Biên một chiến thắng mang tầm vóc vĩ đại, mở ra một trang mới cho dân tộc Việt Nam nhưng khi vào nghĩa trang mới chạnh lòng vì những người làm nên chiến thắng đều không có tên tuổi. Cả một nghĩa trang mà chỉ có 4 anh hùng và ít người có tên trên bia mộ, còn lại là vô danh. Hầu hết tên các anh chỉ được ghi trên bức tường của nghĩa trang.

Cùng đoàn thắp hương kính viếng hương hồn các chiến sỹ, tôi tranh thủ thắp hương cho các anh hùng Tô Vĩnh Diện, Bế Văn Đàn, Phan Đình Giót, Trần Can. Tôi đứng lâu trước mộ anh hùng Tô Vĩnh Diện, nghĩ về chiến công của anh, nhớ về ngôi làng đã sinh ra anh. Thật ra trên sách báo vẫn lẫn lộn huyện của anh và ít ai biết được ngôi làng đã sinh ra anh thế nào.

Nghĩa trang liệt sỹ bên đồi A1

Làng cổ Lan Khê ngày xưa nay là xã Nông Trường, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Ngày Tô Vĩnh Diện vào bộ đội vẫn còn là một xã của huyện Nông Cống. Sau này Triệu Sơn được hình thành bởi một số xã của Thọ Xuân cắt về và của Nông Cống cắt lên. Tên Triệu Sơn được đặt mang ý nghĩa là nơi mà Bà Triệu đã dấy binh khởi nghĩa.

Ngôi làng của Tô Vĩnh Diện có cách nay hơn 500 năm.

Ngày ấy sau cuộc khởi nghĩa Lê Lợi thắng lợi, chính quyền nhà Lê có chính sách khai khẩn đất đai. Một số trai làng của Thọ Xuân rủ nhau theo dòng sông nhà Lê (Sông Đào có từ thời Lê Hoàn) xuôi xuống đến vùng đất chân núi Nưa thì dừng lại khai phá. Đây là vùng núi non rậm rạp nhưng bằng phẳng. Ngày xưa Nguyễn Chích cũng đã từng luyện quân khởi nghĩa ở vùng này trước khi theo Lê Lợi.

Lan Khê ngày ấy sau này là xã Nông Trường có truyền thống hiếu học. Những người họ Nguyễn Hà trong những thanh niên đầu tiên đi khai phá và sau này cũng có nhiều người đỗ đạt nhất. Nguyễn Hiệu, Nguyễn Hoàn là hai cha con đều đỗ Tiến sỹ dưới thời Lê-Trịnh làm tới chức Thượng thư đứng đầu triều. Nguyễn Hoàn còn làm Tổng tài Quốc Tử Giám đã soạn nhiều bia Tiến sỹ trong đó. 

Mặc dù quê hương có truyền thống lâu đời nhưng vẫn là vùng quê nghèo, chỉ thuần nông.

Gia đình Tô Vĩnh Diện không có đất. Anh sinh năm 1924, lên 8 tuổi đã phải đi ở cho địa chủ. Suốt 12 năm đi ở, phải chịu bao cảnh áp bức bất công.

Tô Vĩnh Diện là cậu bé rất năng động. Đi chăn bò cậu thường tụ tập nhau lại đánh trận giả. Cậu thường chỉ huy và gan lì. Đặc biệt, Diện có tài leo trèo. Đền Trại, nơi thờ quận công Nguyễn Hiệu là nơi tôn nghiêm, cây cối rậm rạp, chim về làm tổ nhiều. Nhưng dù là tổ ở tít ngọn cây cao hay nơi nóc đền, cậu thường trèo lên và bắt được.

Tuổi 17, 18 của Diện trùng với những ngày cuộc kháng chiến chống Pháp đang ở giai đoạn quyết liệt nhất. Bộ đội về làng rất đông. Phong trào mẹ nuôi chiến sĩ được mở ra. Mẹ Tô Vĩnh Diện cũng như các bà mẹ khác đều nhận các anh làm con nuôi. 

Chính trong những ngày đó, Diện cũng như các trai tráng của làng hiểu thêm đời chiến sĩ, gian khổ nhưng tự hào. Anh cùng một số thanh niên xung phong nhập ngũ vào năm 1949.

Tháng 3/1953, anh được triệu tập để tham gia lực lượng pháo phòng không sắp thành lập. Khi đơn vị cao xạ được thành lập, anh cùng đơn vị sang Nam Ninh, tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) để huấn luyện. Anh được chỉ định là Trung đội phó thuộc Đại đội 829, tiểu đoàn 394, trung đoàn 367 và được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam.

Sau 8 tháng huấn luyện ở Trung Quốc, tháng 12/1953, Tô Vĩnh Diện cùng đơn vị về nước và ngay lập tức hành quân lên Điện Biên Phủ để chuẩn bị tham chiến. Anh được điều về đại đội 827 làm Trung đội phó Trung đội 2, trực tiếp phụ trách Khẩu đội 3 thay Khẩu đội trưởng bị thương. 

Khẩu đội anh được giao sử dụng khẩu pháo cao xạ 37mm số hiệu 510681, thuộc loại pháo phòng không 37mm nòng, mẫu 61-K kiểu M1939 có gắn lá chắn đạn, do Liên Xô sản xuất và viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Cuối năm 1953 lớp học nhận nhiệm vụ lên đường hành quân về Việt Nam.

Đơn vị tập kết ở Bằng Tường, qua ngả Lạng Sơn về tập trung ở chiến khu Cao-Bắc-Lạng trong khí thế hừng hực chuẩn bị ra trận. Thấy bộ đội ta có súng to, nhân dân khắp vùng và những đoàn dân công hỏa tuyến ùn ùn kéo đến xem. Nhiều người đứng ngẩn người ra ngắm nghía và xin được mở bạt ra xem. 

Có cụ già người Tày đã trên 70 tuổi, đến phân trần: “Bố ở cách đây hơn 10 cây số, nghe tin bộ đội mình nhận được súng to, cả bản sung sướng lắm. Phen này nhất định mình thắng to, bố phải nắm cơm đi bộ lên tận nơi xem cái súng to này. Các con phải cho bố xem nó tận nơi mới được”.

Để giữ bí mật cho hai loại pháo lựu 105mm và cao xạ 37mm lần đầu tiên xuất hiện trên chiến trường, các đơn vị này đều hành quân vào ban đêm, liên tục trong các ngày 13, 14 và 15/1/1954, từ Tuần Giáo vào tập kết ở kilômét 63 đường 42. 

Sau đó, từ vị trí tập kết, bộ đội phải kéo pháo bằng sức người trên đường quân sự mới mở, có chỗ phải vượt qua núi cao 1450m để vào trận địa cách xa vị trí tập kết 15km. Từ trưa ngày 16/1, được sự trợ giúp của bộ binh và công binh, các đơn vị bắt đầu kéo pháo, đến ngày 24/1 mới đưa được pháo vào trận địa.

Trong lúc kéo pháo cũng như lúc nghỉ dọc đường, Tô Vĩnh Diện luôn luôn nhắc đồng đội chuẩn bị chu đáo và tự mình đi kiểm tra tỉ mỉ đường dây kéo pháo, xem xét từng đoạn đường, từng cái dốc rồi phổ biến cho anh em.

Kéo pháo vào đã gian khổ, hy sinh, kéo pháo ra càng gay go ác liệt, anh đã đi sát từng người, động viên giải thích nhiệm vụ, giúp anh em xác định quyết tâm cùng nhau khắc phục khó khăn để đảm bảo thắng lợi.

Tác giả bên mộ anh hùng Tô Vĩnh Diện tại nghĩa trang liệt sỹ A1

Qua 5 đêm kéo pháo ra đến dốc Chuối, đường hẹp và cong, Tô Vĩnh Diện cùng chiến sỹ Chi xung phong lái pháo. Nửa chừng dây tời bị đứt, pháo lao nhanh xuống dốc, anh vẫn bình tĩnh giữ càng, lái cho pháo thẳng đường. 

Nhưng một trong bốn dây kéo pháo lại bị đứt, pháo càng lao nhanh, chiến sỹ Chi bị hất xuống suối. Trong hoàn cảnh hiểm nghèo đó, Tô Vĩnh Diện hô anh em: “Thà hy sinh, quyết bảo vệ pháo”. Anh đã lái pháo đâm vào vách núi, riêng anh bị bánh pháo chèn ngang người, nhờ đó đơn vị kịp ghìm giữ pháo dừng lại.

Quê hương Nông trường của Tô Vĩnh Diện trong kháng chiến chống Mỹ có thêm nhiều anh hùng và dũng sỹ. Cả xã có gần 100 liệt sỹ. Nông Trường vinh dự được phong tặng đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Ngày còn sống, ông cụ thân sinh ra Tô Vĩnh Diện đã được nhà nước cho lên thăm Điện Biên. Cụ đã rất xúc động thắp hương cho các chiến sỹ vô danh. 

Cụ nói anh còn có tên trên bia mộ là may mắn hơn nhiều những đồng đội khác. Gia đình không đưa thi hài của anh về mà để anh mãi mãi bên những người đồng đội, mãi mãi với mảnh đất Điên Biên yêu dấu.

Nguyễn Đăng Tấn- Nguồn: vietnamnet.vn

Tổng Bí thư Trần Phú: tấm gương sáng chói về trí tuệ, đạo đức, khí phách hiên ngang của người cộng sản

Ngày 26-4, tại Phú Yên, Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp với Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Tỉnh ủy Phú Yên đã tổ chức Hội thảo khoa học: “Đồng chí Tổng Bí thư Trần Phú với cách mạng Việt Nam và nơi sinh Phú Yên” nhân dịp kỷ niệm 110 năm ngày sinh đồng chí Trần Phú -Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng, người cộng sản kiên cường; nhà lý luận xuất sắc, người học trò ưu tú của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đồng chí Đinh Thế Huynh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương đã tham dự và chủ trì Hội thảo.

Phát biểu tại Hội thảo, đồng chí Đinh Thế Huynh xúc động chia sẻ Tổng Bí thư Trần Phú đã anh dũng hy sinh khi mới 27 tuổi đời. Tuy gần 1 năm giữ cương vị Tổng Bí thư của Đảng, nhưng đồng chí đã để lại cho Đảng và nhân dân ta một tấm gương sáng chói về trí tuệ, đạo đức, khí phách hiên ngang của người cộng sản. Đó là tấm gương hy sinh, phấn đấu trọng đời cho lý tưởng của Đảng; một lòng một dạ phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Đó là tấm gương sáng ngời về ý chí, nghị lực của người đảng viên cộng sản, một nhà lý luận xuất sắc của Đảng. Tên tuổi và sự nghiệp của đồng chí Trần Phú đã trở thành biểu tượng cao đẹp, mãi mãi được cán bộ, đảng viên và nhân dân tin yêu và kính phục.

Đồng chí Đinh Thế Huynh cũng khẳng định: tưởng nhớ Tổng Bí thư Trần Phú, chúng ta tự hào về một người cộng sản chân chính, nhà lý luận xuất sắc của cách mạng Việt Nam, người con ưu tú của dân tộc Việt Nam; bày tỏ lòng biết ơn về những cống hiến to lớn của đồng chí Trần Phú đối với đất nước, đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng. Tưởng nhớ đồng chí, chúng ta nguyện bước tiếp ý chí kiên cường, tinh thần làm việc tận tụy, hy sinh phấn đấu trọn đời vì lý tưởng của Đảng và hạnh phúc của nhân dân; học tập nhân cách đạo đức sáng ngời của người cộng sản kiên cường; quyết tâm phấn đấu xây dựng đất nước ta ngày càng giàu, đẹp. Tấm gương sáng ngời của đồng chí Tổng Bí thư Trần Phú sống mãi trong trái tim cán bộ, đảng viên và các thế hệ người Việt Nam!

Tại Hội thảo, các đại biểu, các nhà khoa học đã tập trung phân tích làm sâu sắc thêm những nội dung: Những cống hiến của đồng chí Trần Phú trong công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức; Những đóng góp của đồng chí Trần Phú đối với việc xây dựng các tổ chức cách mạng của quần chúng; Các phẩm chất cao đẹp của đồng chí Trần Phú mà chúng ta cần học tập; về nơi sinh, quê quán và dòng tộc của Trần Phú.

Về những cống hiến của đồng chí Trần Phú trong công tác xây dựng Đảng, các đại biểu đều cho rằng, dưới sự chủ trì của đồng chí Trần Phú, Hội nghị Trung ương lần thứ nhất 10-1930 đã đánh dấu sự trưởng thành về mọi mặt của Đảng ta. Cùng với việc thông qua Luận cương chính trị, việc bầu ra Ban Chấp hành Trung ương chính thức (thay mặt Ban Chấp hành Trung ương lâm thời), Bộ Chỉ huy cao cấp của Đảng lần đầu tiên được kiện toàn về mặt tổ chức, có đủ đại diện của cả ba miền Bắc-Trung-Nam, vai trò của Đảng ngày càng lớn mạnh và rộng khắp, uy tín của Đảng không những được nhân lên trong phạm vi cả nước, mà còn có ảnh hưởng mạnh mẽ đến phong trào cách mạng trong toàn cõi Đông Dương.

Nhận thức rõ về tầm quan trọng của công tác tuyên truyền, giáo dục lý luận của Đảng, tháng 12 - 1930, đồng chí Trần Phú và Thường vụ Trung ương Đảng quyết định xuất bản báo Cờ đỏ và Tạp chí Cộng sản, đồng thời thành lập Ban tuyên truyền do một Uỷ viên Thường vụ Trung ương phụ trách. Qua thực tiễn đấu tranh, số lượng đảng viên nhanh chóng tăng lên, từ hơn 300 đảng viên trong cả nước (ngày Đảng mới thành lập 03-02-1930) đã lên tới 2.400 người vào đầu năm 1931. Nhiều quần chúng yêu nước được giác ngộ, kết nạp vào Đảng qua đấu tranh thời kỳ cao trào 1930-1931; ảnh hưởng của Đảng trong phong trào quần chúng không ngừng được nâng cao. Đây là một cơ sở quan trọng để ngày 11-4-1931, trong phiên họp thứ 25 Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản lần thứ XI quyết định: “Đảng Cộng sản Đông Dương trước đây là một chi bộ của Đảng Cộng sản Pháp, từ nay được công nhận là chi bộ độc lập thuộc Quốc tế Cộng sản”.

Về những đóng góp của đồng chí Trần Phú đối với việc xây dựng các tổ chức cách mạng của quần chúng, sau khi về Sài Gòn, ngày 20-01-1931, Trần Phú đã chủ trì Hội nghị Trung ương bàn triển khai công tác vận động công nhân. Hội nghị đã quyết định thành lập Ban Công vận Trung ương do đồng chí trực tiếp làm Trưởng ban. Đây là một bước tiến mới trong công tác vận động công nhân và xây dựng tổ chức Công hội. Hội nghị Trung ương lần này cũng đã thông qua Nghị quyết về Cộng sản thanh niên vận động, nhưng do phong trào thanh niên chưa tiến kịp với những bước phát triển chung của phong trào cách mạng, nên tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản vẫn chưa được thành lập. Tại Hội nghị Trung ương lần thứ hai (3-1931), Trần Phú và Trung ương Đảng nhận định: “Tổ chức ra Cộng sản Thanh niên Đoàn là một nhiệm vụ thâu phục một bộ phận quan trọng của vô sản giai cấp, là một vấn đề cần kíp mà Đảng phải giải quyết”. Từ nhận định ấy, Hội nghị đã quyết định: “Lập tức các Đảng bộ địa phương phải mau mau tổ chức những ủy viên tổ chức ra Đoàn, đốc xuất cho chi bộ tổ chức; tổ chức cơ quan báo chương về việc vận động của Đoàn và phải chỉ đạo cho các chi bộ mới thành lập của Đoàn bắt đầu hoạt động trong quần chúng thanh niên được những khẩu hiệu của thanh niên mà hiệu triệu quần chúng”. Hội nghị đã quyết định thống nhất các tổ chức Thanh niên Cộng sản thành Đoàn Thanh niên Cộng sản Đông Dương. Cũng từ đó, ngày 26-3, ngày Hội nghị kết thúc và thông qua Nghị quyết, được lấy làm ngày thành lập Đoàn thanh niên Cộng sản Đông Dương (nay là Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh).

Cùng với việc ra các nghị quyết nói trên, trong khoảng từ tháng 10-1930 đến tháng 3-1931, nhiều nghị quyết và văn kiện về xây dựng các tổ chức quần chúng cách mạng như: Nông hội, Hội liên hiệp Phụ nữ, Hội Cứu tế đỏ... đã được Trần Phú và Trung ương Đảng soạn thảo, thông qua, góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng công tác xây dựng Đảng và các tổ chức cách mạng trong những năm đầu Đảng ta vừa mới thành lập.

Các nhà khoa học cũng đã làm rõ thêm sự phát triển về đường lối của Đảng ta dưới sự chỉ đạo của Tổng Bí thư Trần Phú trong công tác vận động quần chúng, không chỉ tập trung vào giai cấp vô sản mà đã mở ra hướng vận động tập hợp nông dân, thanh niên, phụ nữ và các tầng lớp khác. Từ đó, có thể nhận rõ thêm sự sáng tạo của Đảng ta và Tổng Bí thư Trần Phú trong điều kiện làm cách mạng ở một nước thuộc địa nửa phong kiến như ở nước ta.

Về các phẩm chất cao đẹp của đồng chí Trần Phú mà chúng ta cần học tập, có thể nhận thấy do cha mẹ mất sớm từ thuở ấu thơ, Trần Phú sớm hình thành nhân cách tự lập, có nghị lực trong cuộc sống và học tập, vượt qua mọi khó khăn để trưởng thành và cống hiến. Xuất thân trong một gia đình nhà Nho yêu nước được chứng kiến sự áp bức, bóc lột của thực dân, phong kiến và phong trào nổi dậy của các tầng lớp nhân dân vào thế kỷ XX, Trần Phú đã chọn con đường hiến thân cho lý tưởng cao đẹp là chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Ngay từ khi còn là thầy giáo, bằng nhiệt huyết của mình, Trần Phú đã truyền cho các lớp học sinh tinh thần yêu nước và lôi cuốn họ vào cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, với mong muốn xây dựng một xã hội tốt đẹp, không áp bức, bất công. Sau khi gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, được bồi dưỡng lý luận Mác - Lênin và được kết nạp vào Cộng sản Đoàn, từ chủ nghĩa yêu nước, Trần Phú đến với lý tưởng cộng sản và quyết tâm hiến dâng đời mình cho lý tưởng đã lựa chọn.

Đồng chí Trần Phú đã nêu cao tấm gương sáng ngời về lòng trung thành tuyệt đối với Đảng và cách mạng, về tinh thần bất khuất trước kẻ thù. Suốt gần 5 tháng bị giam cầm, từ bót Pôlô, bót Catina rồi Khám Lớn Sài Gòn, mọi đòn roi và thủ đoạn thâm độc của kẻ thù đều không khuất phục được người cộng sản kiên cường. Lời nhắn gửi cuối cùng của đồng chí trước lúc hy sinh: “Hãy giữ vững chí khí chiến đấu” đã truyền thêm sức mạnh cho đồng đội và sẽ còn vang vọng mãi, cổ vũ chúng ta vượt qua mọi khó khăn, thử thách trên con đường cách mạng hôm nay. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ca ngợi: “Đồng chí Trần Phú là một người con ưu tú của Đảng và của nhân dân, đã oanh liệt hy sinh cho cách mạng”. Quốc tế Cộng sản cũng đã đánh giá cao đồng chí Trần Phú: “Sự nghiệp cách mạng, niềm tin và phẩm chất cao đẹp của Tổng Bí thư Trần Phú trong nhà tù đế quốc sẽ mãi mãi là tấm gương bất diệt cho những người cộng sản trên toàn thế giới, đặc biệt là những người Cộng sản Đông Dương”.Về nơi sinh, quê quán và dòng tộc của Trần Phú, các đại biểu đã làm rõ thêm về tác động của các yếu tố truyền thống lịch sử văn hóa, xã hội, thiên nhiên của vùng đất nơi sinh ra và của quê hương dòng tộc đối với Trần Phú, cũng như tác động từ sự nghiệp của Tổng Bí thư Trần Phú đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng bộ và nhân dân của hai địa phương Phú Yên, Hà Tĩnh.

Hội thảo khoa học kỷ niệm 110 năm Ngày sinh của Tổng Bí thư Trần Phú được tổ chức trọng thể vào lúc toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang tích cực thi đua học tập, lao động sản xuất, thi đua lập thành tích chào mừng những ngày lễ lớn của đất nước: Ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam 30-4, Ngày Quốc tế lao động 1-5 và lễ kỷ niệm 124 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

Hội thảo hôm nay đã góp phần làm tăng thêm động lực tinh thần, động viên các cấp, các ngành, các địa phương, cổ vũ cán bộ, đảng viên và đồng bào, chiến sỹ cả nước, hăng hái thi đua lao động sáng tạo, công tác và học tập, lập nhiều thành tích, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng.

Hội thảo cũng là dịp để tuyên truyền, cổ vũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và những tấm gương của những người chiến sỹ cộng sản tiền bối, những người học trò xuất sắc của Người; là dịp giáo dục truyền thống yêu nước, truyền thống cách mạng vẻ vang cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ hôm nay.

Bảo Châu

Đảng uỷ Khối tổ chức Hội nghị học tập, quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 8

Thực hiện chương trình công tác năm 2014 của Ban Chấp hành Đảng bộ Khối cơ sở Bộ Xây dựng. Sáng ngày 28-03-2014, tại Hội trường Thành phố Hồ Chí Minh, Ban Tuyên giáo và Văn phòng Đảng uỷ Khối tổ chức Hội nghị học tập, quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 và các Chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương (Khoá XI) cho toàn thể đảng viên, cán bộ chủ chốt trong Đảng bộ Khối.

Đ/c Tô Đại Phong, Giám đốc trung tâm công tác tư tưởng Thành phố báo cáo chuyên đề tại Hội nghị

Hội nghị đã nghe đồng chí Tô Đại Phong, Giám đốc Trung tâm công tác tư tưởng Thành phố giới thiệu 02 chuyên đề: “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”, Nghị quyết về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”; đồng chí Nguyễn Xuân Ngọc - Đảng ủy viên, Phó Trưởng ban Ban Tuyên giáo Đảng ủy Khối hướng dẫn việc tuyên truyền Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 03/01/2014 của Ban Bí thư Trung ương.

Đ/c Nguyễn Phong Nhật, Phó bí thư thường trực Đảng ủy Khối quán triệt Nghị quyết tại Hội nghị

Phát biểu kết thúc Hội nghị, đồng chí Nguyễn Phong Nhật – Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Khối cho rằng “Hội nghị lần thứ 8 BCH Trung ương Đảng khóa XI diễn ra vào thời điểm giữa nhiệm kỳ khóa XI với nhiều nội dung quan trọng, có tầm ảnh hưởng sâu rộng về mọi mặt được toàn Đảng, toàn dân hết sức quan tâm. Chính vì vậy học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 có ý nghĩa hết sức quan trọng, là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn Đảng bộ, là quyền lợi và trách nhiệm của mỗi đảng viên”. Đồng chí đề nghị cán bộ, đảng viên tiếp tục nghiên cứu sâu các nội dung của Nghị quyết để xây dựng chương trình hành động phù hợp với điều kiện của từng đơn vị, tổ chức đảng gắn với nhiệm vụ cụ thể của cán bộ, đảng viên. Đồng thời tổ chức triển khai nghiêm túc, chặt chẽ, hiệu quả các Nghị quyết Trung ương khóa XI và Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo chủ đề năm 2014 “Nêu cao tinh thần trách nhiệm, chống chủ nghĩa cá nhân, nói đi đôi với làm”, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng đảng của toàn Đảng bộ Khối năm 2014.

Quang cảnh toàn Hội nghị - Gần 800 đảng viên thuộc Đảng bộ Khối
tham dự học tập, quán triệt và triển khai Nghị quyết Trung ương 8 (Khóa XI) của Đảng

Tin bài và ảnh: Xuân Ngọc - Hy Hùng

 

ĐOÀN KHỐI CƠ SỞ BỘ XÂY DỰNG

Địa chỉ: Lầu 4, Số 14, Kỳ Đồng, F.9, Q.3, TP. HCM
Điện thoại: (08) 22 41 45 92 - Fax: (08) 3 5262560
Website: www.tuoitreboxaydung.vn
Visitors
5
Articles
589
Web Links
9
Articles View Hits
1435027