• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Kiên quyết chống tự diễn biến, tự chuyển hóa

QĐND - V.I. Lê-nin, vị thầy của cách mạng vô sản từng nói: “Không có ai đánh đổ được chúng ta, trừ chúng ta”. Ở hoàn cảnh hôm nay của cách mạng nước ta, câu nói này càng phải được coi là chân lý bằng vàng đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải ý thức một cách sâu sắc, triệt để. Bài học về sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, trước hết là bài học về sự thiếu kiên quyết, không tỉnh táo trong việc chống tự diễn biến, tự chuyển hóa dẫn đến tan rã mang tính hệ thống.

“Tự diễn biến” là quá trình biến đổi bên trong tư tưởng, từ đúng sang sai, từ tích cực sang tiêu cực, từ tiến bộ sang phản tiến bộ. Biểu hiện rõ nhất là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Ví dụ có cán bộ cả đời phấn đấu vì lý tưởng cách mạng, nghiêm túc, mẫu mực, trong sáng nhưng đến khi về hưu thì hoàn toàn ngược lại, phủ nhận thành tựu của cách mạng, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng, phủ nhận chính mình… “Tự chuyển hóa” là sự thay đổi về chất của tư tưởng chính trị làm cho người cán bộ đánh mất mình, đánh mất vai trò tiên phong, gương mẫu, tha hóa rồi trở thành kẻ chiết trung, có khi trở thành kẻ phản bội, chống lại Đảng, cách mạng. Goóc-ba-chốp, nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô có thể coi là một ví dụ điển hình về vấn đề này.

Đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là biện pháp hiệu quả phòng, chống "tự diễn biến". Ảnh: Đảng bộ khối các cơ quan Trung ương tuyên dương 500 bí thư chi bộ tiêu biểu. Nguồn: Congan.com.vn

Từ “tự diễn biến” đến “tự chuyển hóa” là một quá trình phát triển của một căn bệnh nặng. Phòng bệnh bao giờ cũng tốt hơn chữa bệnh, nhất là phòng từ khi chưa có bệnh hoặc phát hiện sớm thì cơ thể mới luôn được khỏe mạnh. Cuộc đấu tranh chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là cuộc đấu tranh không tiếng súng nhưng cực kỳ căng thẳng, gay gắt, âm thầm, bởi nó vô hình và diễn ra bên trong con người.

Lê-nin và Hồ Chí Minh đã sớm nhận thấy tầm cực kỳ quan trọng của vấn đề, nên trong nhiều bài viết, bài nói chuyện đã nhấn mạnh, coi đó như là một trong những vấn đề then chốt của nhiệm vụ cách mạng. Một nhiệm vụ mà Bác Hồ yêu cầu cán bộ, đảng viên phải thường xuyên quan tâm là “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”.

Đi tìm nguyên nhân của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thì vấn đề căn cốt của nó không hề xa lạ. Đó là điều mà Bác Hồ đã nhiều lần nhắc nhở phải cảnh giác: “Chủ nghĩa cá nhân”. Người đã chỉ ra những căn bệnh mà nếu không chữa trị kịp thời thì sớm muộn sẽ nguy hiểm tới tính mạng. Đó là bệnh công thần: “Một số ít cán bộ già mắc bệnh công thần, cho mình là người có công lao, hay có thái độ "cha chú" với cán bộ trẻ, đảng viên trẻ nói gì cũng gạt đi, cho là "trứng khôn hơn vịt"…” (Hồ Chí Minh toàn tập, 1996, 2004, tập 12, tr.211). Đó là tư tưởng “nạnh kẹ” bảo thủ của những người cán bộ lớp trước: “Các đồng chí già đánh Tây. Đánh Tây là dọn đường. Nhưng không thể nạnh kẹ: Chúng tôi vác cuốc, vác cào làm đường, già rồi mà chưa được đi xe, các anh mới lớn lên đã được đi xe. Thế là nạnh người đi xe. Có đúng không? Sau này đến chủ nghĩa Cộng sản, bọn trẻ còn đi xe sướng hơn nữa kia. Già có việc già, trẻ có việc trẻ. Tục ngữ có câu “măng mọc quá pheo”. Măng mọc sau, mà tốt hơn tre đấy. Không lẽ ta ngồi nói: “Măng, sao mày mọc quá tao?” (Sđd, tập 10, tr.465). Đó là căn bệnh xa rời thực tiễn, giáo điều, sách vở: “… hiểu chủ nghĩa Mác - Lê-nin tức là cách mạng phân công cho việc gì, làm Chủ tịch nước hay nấu ăn, đều phải làm tròn nhiệm vụ. Không nên đào tạo ra những con người thuộc sách làu làu, cụ Mác nói thế này, cụ Lê-nin nói thế kia, nhưng nhiệm vụ của mình được giao quét nhà lại để cho nhà đầy rác” (Sđd, tập 12, tr.554). Đó là bệnh tham nhũng đục khoét, lãng phí: “… coi Đảng như một cái cầu thang để thăng quan phát tài. Họ không quan tâm đến đời sống của nhân dân mà chỉ lo nghĩ đến lợi ích của riêng mình. Họ quên rằng mỗi đồng tiền, hạt gạo đều là mồ hôi nước mắt của nhân dân, do đó mà sinh ra phô trương, lãng phí” (Sđd, tập 11, tr.374). Đó là căn bệnh cơ hội, xu nịnh, a dua: “Lại có những người trước mặt thì ai cũng tốt, sau lưng thì ai cũng xấu. Thấy xôi nói xôi ngọt, thấy thịt nói thịt bùi. Theo gió bẻ buồm, không có khí khái” (Sđd, tập 5, tr.261)…

Soi những lời giáo huấn của Lê-nin, của Hồ Chí Minh vào tình hình  nước ta hôm nay có thể đưa ra mấy biện pháp dưới đây về chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”:

Một là, chú trọng hơn nữa, thực hiện thiết thực hơn nữa Cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh". Phải coi đây là việc làm thường xuyên liên tục chứ không phải làm theo giai đoạn, theo thời kỳ. Một trong những phương thức lãnh đạo hiệu quả là cách làm nêu gương, thì cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương trong sáng nhất, thuyết phục nhất.

Hai là, tăng cường bồi dưỡng lý tưởng chính trị, tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta cho mọi tầng lớp nhân dân. Thế nhưng trên thực tế vấn đề này ở một số nơi được làm một cách hình thức. Họ coi đây là việc làm miễn cưỡng vì mất thời gian, xa lạ với chuyên môn.

Ba là, đưa việc phê bình và tự phê bình vào thực chất. Bác Hồ từng nói một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Đảng cần phải biết những ưu điểm và khuyết điểm của mình để dạy dỗ đảng viên, dạy dỗ quần chúng. Nhìn từ góc độ này thì trong Đảng ta cần tiến hành một sự phê bình dân chủ rộng rãi, các đảng viên, các cơ sở Đảng cấp dưới thường xuyên góp ý phê bình cho cơ quan Đảng cấp trên. Đối với đảng viên, thì vẫn lời Bác Hồ, “Ai cũng cần tắm rửa cho mình mẩy sạch sẽ. Thì ai cũng cần tự phê bình cho tư tưởng và hành động được đúng đắn” (Sđd, tập 6, tr.209). Bài học sự sụp đổ của Liên Xô có một nguyên nhân là coi nhẹ, thậm chí bỏ qua vấn đề phê bình và tự phê bình. Ai cũng có bệnh, và như một quy luật, càng già thì càng nhiều bệnh. “Khuyết điểm cũng như chứng bệnh. Phê bình cũng như uống thuốc. Sợ phê bình, cũng như có bệnh mà giấu bệnh. Không dám uống thuốc. Để đến nỗi bệnh ngày càng nặng, không chết "cũng la lết quả dưa" (Sđd, tập 5, tr.261).

Bốn là, công tác cán bộ phải theo quy trình chặt chẽ, bởi xét đến cùng, vấn đề con người luôn mang tính quyết định. Bác Hồ từng ví công việc cách mạng như một bộ máy, cán bộ là dây chuyền: “Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt,… toàn bộ máy cũng tê liệt” (Sđd, tập 5, tr.54). Phải ngăn chặn ngay một thực tế đau lòng: Có nơi sử dụng, bổ nhiệm, cất nhắc cán bộ không theo năng lực, nghề nghiệp mà theo quan hệ, ô dù, thậm chí bằng tiền bạc. Có một thành ngữ dân gian đang phổ biến trong xã hội phần nào nói lên điều này: “Thứ nhất quan hệ, thứ nhì tiền tệ, thứ ba hậu duệ, thứ tư trí tuệ”. Nếu tình trạng này là có thật, cứ diễn ra không phanh thì “dây chuyền” cán bộ sớm muộn sẽ bị đứt. Một vài vụ án tham nhũng nghiêm trọng gần đây, nhìn ở góc độ này chính là bài học về sử dụng sai cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt.

Năm là, tăng cường hơn nữa niềm tin của dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Sống ở xứ sở nhiệt đới khí hậu khắc nghiệt, nghề canh tác chủ yếu gắn với cây lúa nước nên người dân Việt phải cô kết lại với nhau thành một khối để lao động và chống thiên tai địch họa. Họ sống trọng tình và trọng niềm tin, “một điều bất tín vạn sự bất tin”. Dân ta rất thiết tha với Đảng, yêu Đảng và vì Đảng, do vậy Đảng phải đáp lại tấm lòng ấy, phải gần dân hơn, yêu dân và vì dân hơn, nói phải đi đôi với làm, nói ít làm nhiều. Tránh tình trạng nghị quyết ở các cấp rất hay, nhưng xong nghị quyết là cũng xong luôn công tác lãnh đạo, đến kỳ lại ra nghị quyết, trong khi tình hình chuyển biến chậm chạp, hoặc không chuyển biến. Điều kỳ vọng nóng bỏng của dân ta hôm nay với Đảng, đặt niềm tin vào Đảng là việc chống tham nhũng triệt để và hiệu quả.

Sáu là, ngăn chặn kịp thời sự xâm lăng về chính trị, văn hóa từ bên ngoài. Các tư tưởng, quan điểm, lối sống độc hại bằng nhiều con đường đang tiêm nhiễm vào một bộ phận dân ta. Chống lại cuộc xâm lăng này thì cách khả thi và đúng đắn hơn cả là tự tạo ra một sức đề kháng văn hóa đủ mạnh. Phải xây dựng một nền văn hóa dân tộc, tiên tiến, hiện đại. Đây là chủ trương lớn của Đảng mà chúng ta đang tiến hành, nhưng tiếc rằng có nơi, có lúc xác định mục tiêu phát triển còn nhẹ về văn hóa mà nặng về kinh tế. Phải thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ: “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi” để đầu tư cho văn hóa đúng mức, hiệu quả.

NGUYỄN THANH TÚ

 

Chiến tranh Biên giới 1979: Không thể quên lãng

Nhắc để dân ta nhớ, biết ơn và tôn vinh những chiến sĩ và đồng bào đã hy sinh để bảo vệ biên cương tổ quốc, như chúng ta đã và sẽ vẫn tôn vinh bao nhiêu anh hùng liệt sĩ trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Không thể quên lãng.

  • Tưởng niệm cuộc chiến 1979: Không có gì nhạy cảm/Sòng phẳng với lịch sử không phải kích động hận thù/Trung Quốc phải thừa nhận/Thiếu quân chủ lực vẫn đánh thắng/Luận về cuộc chiến, cần sự ngay thẳng

LTS:Nhân kỷ niệm 35 năm ngày mở đầu Chiến tranh biên giới phía Bắc 17/2/1979, Tuần Việt Nam ghi nhận ý kiến của các học giả, tướng lĩnh quân đội, nhân chứng… về nguyên nhân, diễn biến quanh cuộc chiến và bài học rút ra cho mối quan hệ Việt – Trung trong hiện tại.

Ảnh: Mạnh Thường

Thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên viện trưởng Viện chiến lược, Bộ công an:

Tưởng niệm cuộc chiến 1979: Không có gì nhạy cảm

Sau 35 năm nhìn lại cuộc chiến tranh biên giới (CTBG) phía Bắc năm 1979, theo ông, chúng ta cần vạch ra rõ ràng, dứt khoát về bản chất và vị trí của cuộc chiến này trong lịch sử như thế nào?

Thiếu tướng Lê Văn Cương: Đây là một cuộc kháng chiến chống xâm lược của dân tộc VN. Về bản chất, nó không khác gì các cuộc kháng chiến oanh liệt trong lịch sử như nhà Lý chống quân Tống, nhà Trần chiến thắng quân Nguyên, nhà Lê tiêu diệt quân Minh, và Quang Trung Nguyễn Huệ đánh thắng nhà Thanh.

Làm một phép so sánh thế này, năm 1788 đầu 1789, trong vòng 10 ngày, Quang Trung Nguyễn Huệ đã hành quân thần tốc để giải phóng và tiêu diệt 29 vạn quân Thanh vào ngày mồng 5 tháng Giêng năm Kỷ Dậu 1789. Hàng năm ta vẫn kỷ niệm sự kiện này trong lễ hội Gò Đống Đa.

Thiếu tướng Lê Văn Cương. Ảnh: Nguyễn Khánh/TTO

Còn cuộc kháng chiến năm 1979, với khoảng thời gian hơn 17 ngày (tính từ 17/2 khi TQ tràn qua biên giới VN đến 5/3/1979 khi TQ bắt đầu rút quân – PV), ta đã đuổi được 60 vạn quân TQ ra khỏi bờ cõi. Một cuộc kháng chiến chống xâm lược như vậy rất oanh liệt, vĩ đại chứ.

-Thế nhưng, nếu như chiến thắng của Quang Trung Nguyễn Huệ đã được ghi lại đậm nét, được tưởng nhớ hàng năm, thì cuộc kháng chiến 1979 đến nay dường như vẫn vắng bóng trong lịch sử VN?

Trong hơn 20 năm nay, có lẽ từ khi bình thường hóa quan hệ Việt Trung năm 1991, chúng ta không tổ chức kỷ niệm, hệ thống truyền thông không đưa tin sự kiện CTBG tháng 2/1979, ngay cả trong những năm kỷ niệm chẵn như 1989, 1994, 1999, 2004, 2009.

Tóm tắt diễn biến chính Chiến tranh biên giới phía Bắc 1979

Rạng sáng ngày 17/2/1979, nhà cầm quyền Bắc Kinh đã điều động một lượng lớn quân đội và vũ khí hiện đại nhất mà họ có lúc đó tấn công vào 6 tỉnh biên giới phía bắc nước ta.

TQ đã huy động 60 vạn quân (chưa kể dân công hỏa tuyến phục vụ), tấn công trên toàn tuyến biên giới từ Quảng Ninh đến Phong Thổ dài trên 1.000 km, tập trung vào 3 khu vực Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai với Lào Cai là trọng điểm. Ngoài ra TQ còn mang theo mấy trăm máy bay, và một số tàu chiến thuộc hạm đội Nam hải sẵn sàng tham chiến khi cần thiết.

Thời gian tấn công: Cuộc tấn công của TQ vào lãnh thổ VN bắt đầu từ ngày 17/2/1979 và kết thúc ngày 16/3/1979, có thể chia làm 2 giai đoạn: giai đoạn tấn công và giai đoạn rút lui.

Giai đoạn tấn công: thời gian 17 ngày (từ 17/2 đến 5/3/1979):

Ngày 17/2-19/2: Quân đội TQ đột kích trên toàn tuyến biên giới dài trên 1.000 km chiếm một số vị trí tiền duyên của ta.

Ngày 20/2: Chiếm thị xã Lào Cai, thị trấn Đồng Đăng.

Ngày 21/2: Chiếm thị xã Cao Bằng

Ngày 22/2: Chiếm thị trấn Bảo Lộc

Ngày 23/2: Chiếm thị xã Hà Giang

Ngày 24/2: Chiếm thị trấn Cam Đường

Các ngày sau đó 2 bên đánh nhau dữ dội tại vùng gần Lạng Sơn, Sapa. Ngày 5/3 TQ chiếm Sapa và một phần thị xã Lạng Sơn.

Ngay trong ngày hôm đó (5/3), TQ tuyên bố đã đạt mục đích, bắt đầu rút quân khỏi VN. VN tuyên bố tổng động viên toàn quốc. Một sư đoàn chính quy VN điều từ Campuchia và Lào đã về tới sát mặt trận. Liên Xô bắt đầu tăng quân tới biên giới Trung Xô.

Giai đoạn rút lui: thời gian 10 ngày (từ 6/3 đến 16/3/1979):

Kể từ lúc quân đội TQ rút lui, bộ đôi VN không tấn công, truy kích địch.

-Quân TQ bắt đầu rút khỏi một phần của thị xã Lạng Sơn từ 5/3, đến 12/3 rút hết khỏi Đồng Đăng.

-Bắt đầu rút khỏi vùng Lào Cai từ 7/3 đến 13/3 thì rút hết

-Bắt đầu rút khỏi vùng Cao Bằng từ 7/3, đến 14/3 thì rút hết.

Ngày 16/3/1979 TQ tuyên bố hoàn thành việc rút quân, chiến tranh kết thúc.

Thống kê thương vong (tài liệu do Nhà nghiên cứu Dương Danh Dy cung cấp):

Một thống kê chính thức của Đài Loan  phản ánh, số người chết của phía Trung Quốc là 26.000; của phía Việt Nam là 30.000 người.

Số bị thương: Phía Trung Quốc là 37.000 người. Số thương vong phía Việt Nam là 32.000 người.

Về số bị bắt sống, phía Trung Quốc là 260 người. Phía Việt Nam là 1.600 người.

(theo Yisheng.chinese.com)

Trong cuộc chiến tranh này, TQ đã phá hoại hoàn toàn 4 thị xã, hơn 20 thị trấn, huyện lỵ, nhiều làng xóm, nhà máy, hầm mỏ, nông trường, cầu đường, nhà cửa… của nhân dân ta tại những nơi chúng đi qua.

Hệ thống giáo trình chuẩn quốc gia các cấp học phổ thông, trung học, đại học và sau đại học đều không đưa cuộc kháng chiến này vào. Thế hệ trẻ không biết gì về cuộc chiến này.

Theo tôi, không có gì nhạy cảm ở đây, khi tưởng niệm một chiến công oanh liệt đến thế của dân tộc. Nó hoàn toàn khác và không liên quan gì đến kích động chủ nghĩa dân tộc cả.

Nước nào trên thế giới cũng tổ chức những ngày kỷ niệm tương tự như vậy. Nhật Bản và Mỹ hiện là đồng minh chặt chẽ. Nhưng chẳng hạn với sự kiện Trân Châu Cảng 7/12/1941, hàng năm nước Mỹ vẫn kỷ niệm và thế hệ sau vẫn hiểu rất sâu sắc thảm họa. Còn thanh niên Nhật vẫn tỏ tường tội ác của Mỹ khi ném 2 quả bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki. Nước Nhật ghi rõ sự kiện này trong SGK và cũng tưởng niệm hàng năm.

Ở châu Âu, thanh niên Anh, Pháp… vẫn hiểu tường tận tội ác của phát-xít Đức giai đoạn 1940-1945. Tất cả hệ thống sách giáo khoa sử của Mỹ, Nhật, Anh… đều có những trang đen tối như vậy cả, trong khi hiện họ là đồng minh của nhau.

Đối với VN, việc kỷ niệm những sự kiện như chiến thắng Ngọc Hồi, Đống Đa, chiến thắng Điện Biên Phủ, thống nhất đất nước 1975, CTBG 1979… chính là để các thế hệ hiện tại khắc cốt ghi tâm, tưởng nhớ đến những người đã chiến đấu bảo vệ đất thiêng. Và cũng là để hun đúc cho họ ý chí quật cường yêu nước.

-Vậy chúng ta cần có hành động gì để trả lại vị trí xứng đáng cho cuộc chiến chống xâm lược 1979, và ghi tạc công lao của những người đã ngã xuống vì đất nước?

Có một số việc cần làm:

Đưa sự kiện này vào thành chương/ phần trong giáo trình chuẩn quốc gia tại các cấp học, giống như đã làm với các cuộc kháng chiến khác. Muộn còn hơn không, tôi đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo cần biên soạn một chương riêng về cuộc chiến, đưa vào hệ thống giáo trình chuẩn quốc gia (phổ thông, đại học, và sau đại học…).

Tổ chức kỷ niệm trang trọng chiến thắng oanh liệt này. Rà soát tổng kiểm kê lại những người có công trong cuộc kháng chiến.

Lên tiếng để thế giới hiểu

-Từ những nghiên cứu của bản thân, xin ông cho biết dư luận thế giới nhìn nhận thế nào về bản chất cuộc chiến 1979, và về TQ trong cuộc chiến tranh này?

Cuộc xâm lược của 60 vạn quân TQ trên toàn tuyến biên giới VN có bằng chứng rõ ràng, được ghi âm, ghi hình, cả thế giới biết và hầu hết đều có cái nhìn thống nhất đó là cuộc chiến tranh xâm lược VN.

Cuộc xâm lược 1979 đã khiến thế giới hiểu rõ bản chất của TQ. Nó khiến họ mất uy tín quốc tế, bộc lộ bản chất bành trướng Đại Hán, bản chất nói một đằng làm một nẻo, không hề chứng tỏ chủ trương “phát triển hòa bình” của TQ khi đó.

Trong khi hơn 20 năm nay chúng ta không tổ chức kỷ niệm CTBG 1979 thì bạn bè tôi đã tập hợp được ở TQ vào những năm kỷ niệm chẵn, họ làm rất rầm rộ. Có hàng 500 – 700 bài báo với tiêu đề kiểu “Chiến công oanh liệt của Quân Giải phóng Nhân dân TQ phản công quân VN xâm lược”, “Quân xâm lược VN đã phải trả bài học đắt giá”, v.v… Một sự xuyên tạc, đổi trắng thay đen.

Còn chúng ta? “Gieo cái gì thì gặt cái đó”, khi chính VN im lặng về một cuộc chiến chính nghĩa như vậy, thì thế giới làm sao bày tỏ sự ủng hộ?

-Qua sự kiện CTBG 1979, theo ông có bài học quan trọng nào chúng ta cần rút ra?

Qua cuộc chiến tranh này, chúng ta phải nhận thức được bản chất của lãnh đạo TQ. Về bản thân người dân TQ, tôi nghĩ về cơ bản là hòa hiếu, muốn giao hảo, hữu nghị với VN.

Là một nước láng giềng chung đường biên giới 1.450 km với chúng ta, không thể không hiểu họ.

Với tập đoàn lãnh đạo TQ vào thời kỳ 1979 và ít ra trong khoảng 10 năm sau đó, toàn bộ hệ thống lý luận Mác - Lê nin không có điểm nào biện minh cho việc lãnh đạo nước này xâm lược VN – một quốc gia trong hệ thống XHCN cả.

Qua cách xâm lược đó, tập đoàn lãnh đạo TQ cho thấy họ là ai? Họ theo Chủ nghĩa Mác hay theo Chủ nghĩa bá quyền nước lớn?

Quan hệ 16 chữ vàng hay cái gì đi nữa cũng sẽ chỉ là “ứng vạn biến”. Còn cái “dĩ bất biến” luôn phải là độc lập, chủ quyền của Tổ quốc. Không được mơ hồ lấy cái “ứng vạn biến” để thay “dĩ bất biến”.

-Có một thực tế mà chúng ta đều hiểu, VN là một nước nhỏ ở bên cạnh một nước lớn như TQ, vậy chúng ta cần một triết lý ứng xử thế nào cho phù hợp?

Đây là một bài toán khó với hầu hết các nước trong tình trạng tương tự. Chẳng hạn Canada, Mexico… khi ở cạnh Mỹ, hay các nước nhỏ xung quanh Nga. Tất nhiên mức độ không như ta ở cạnh TQ.

Trong trường hợp này, tôi thấy có thể dẫn ra 1 câu nói của ông Lý Quang Diệu, mà tôi coi như một trong những câu hay nhất thế kỷ. Đại ý rằng thời nào cũng thế, cá lớn nuốt cá bé. Vì thế Singapore phải biến thành một con cá bé độc, để không ai dám ăn, ăn là chết.

Đó cũng là một gợi ý tốt cho VN. Nhưng làm như thế nào, câu trả lời thuộc về những nhà lãnh đạo!

Mỹ Hòa (thực hiện)

Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình. Ảnh tư liệu

Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình:

Sòng phẳng với lịch sử không phải kích động hận thù

Chiến tranh biên giới phía Bắc là một câu chuyện buồn trong lịch sử, một câu chuyện buồn trong quan hệ Việt Nam - Trung Quốc. Dẫu vậy, nó vẫn là lịch sử.

Và đã là lịch sử thì phải nhìn nhận nó với sự thật đầy đủ. Sẽ không thể không nhắc đến ngày 17.2.1979, ngày mà cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc đã nổ ra; ngày mà hàng ngàn con em chúng ta đã hy sinh để bảo vệ biên cương của Tổ quốc.  Nhắc để dân ta nhớ, biết ơn và tôn vinh những chiến sĩ và đồng bào đã hy sinh để bảo vệ biên cương tổ quốc, như chúng ta đã và sẽ vẫn tôn vinh bao nhiêu anh hùng liệt sĩ trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Không những dân ta cần hiểu, mà nhân dân Trung Quốc cũng như nhân dân các nước cũng phải hiểu đúng: đâu là sự thật, đâu là lẽ phải và coi đó là bài học. Không thể quên lãng nó.

Nhiều người dân Trung Quốc đã hiểu sai cơ bản về cuộc chiến tranh biên giới đó. Nhưng tính chính nghĩa của Việt Nam trong cuộc chiến đó là sự thật không thể chối cãi. Có thể nào nghĩ rằng Việt Nam vừa ra khỏi cuộc chiến tranh vô cùng ác liệt kéo dài 30 năm, đang tập trung hàn gắn vết thương chiến tranh và đứng trước vô vàn khó khăn lại có thể khiêu khích Trung Quốc, một nước lớn, một nước XHCN đã ủng hộ và giúp đỡ mình trong cuộc chiến tranh cứu nước vừa qua? Thực tế là quân dân Việt Nam khi đó đã phải chống lại một cuộc chiến tranh biên giới to lớn để bảo vệ biên cương tổ quốc.

Làm việc với đại diện Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đồng tình với đề xuất của GS Phan Huy Lê rằng phải đưa mạnh dạn, đầy đủ hơn nữa những tài liệu về Hoàng Sa, Trường Sa đã được kiểm chứng vào sách giáo khoa để giáo dục thế hệ trẻ.

Theo tôi, không chỉ đưa vào sách giáo khoa những sự thật lịch sử về Hoàng Sa, Trường Sa mà ngay cả cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc cũng cần được nhắc đến đầy đủ. Con em chúng ta cần biết và có quyền biết lịch sử, biết những gì mà ông cha đã làm, để tự hào và tiếp nối truyền thống . Tôi muốn nhấn mạnh rằng: ta tôn trọng lịch sử, sòng phẳng với lịch sử không có nghĩa là chúng ta kích động hận thù. Chúng ta biết sự thật, để hiểu đâu là lẽ phải và để rút ra bài học cho các mối quan hệ quốc tế trong bối cảnh phức tạp ngày nay.

Tôi ủng hộ con đường ngoại giao khôn ngoan, mềm mỏng, tôn trọng các nguyên tắc quốc tế. Kinh nghiệm trong đấu tranh, né tránh hay im lặng đều không có lợi, vì như vậy chúng ta không làm rõ được sự thật, phải trái, đúng sai, có khi còn khuyến khích đối phương, khiến họ cho rằng ta yếu thế và ngày càng lấn tới. Tuy nhiên không bình tĩnh cân nhắc trong ứng xử cũng sẽ khiến cho tình hình thêm phức tạp, không có lợi cho sự nghiệp.

Vậy bài học rút ra từ quá khứ mất mát của chúng ta là gì đây? Việt Nam là một dân tộc hòa hiếu. Xưa đến nay, ta rất chú trọng xây dựng quan hệ láng giềng tốt với Trung Quốc dù trong lịch sử hai nước đã có bao lần xung đột. Trong tình hình hiện nay, chúng ta cần một môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước và cần những bạn bè tốt để hợp tác nên Việt Nam càng coi trọng quan hệ hữu nghị với Trung Quốc – một nước lớn đang có những bước phát triển thần kỳ.

Nhưng như bất cứ dân tộc nào, chủ quyền quốc gia đối với Việt Nam là thiêng liêng và chúng ta sẽ kiên quyết bảo vệ bằng mọi giá, đồng thời chúng ta chủ trương mọi tranh chấp lãnh thổ được giải quyết bằng phương pháp hòa bình, có sự tôn trọng lẫn nhau.

Trong đấu tranh, chúng ta đã làm đúng theo lời dạy của Bác Hồ: “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, luôn giữ vững lập trường nguyên tắc độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, nhưng vẫn linh hoạt, mềm dẻo trong sách lược.

Tôi tin vào sức mạnh của chính nghĩa, của lẽ phải, tin vào sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân và tin ở sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân thế giới. Ta cần hành động theo tinh thần đó. Nhưng tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng sẽ khó để bảo vệ chủ quyền nếu đất nước không có nội lực, không có nền tảng vững chắc về kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng với đoàn kết dân tộc mạnh mẽ. Đây là nhiệm vụ quan trọng nhất mà chúng ta cần phấn đấu.

Lan Hương(ghi)

Bệnh viện huyện Trùng Khánh, Cao Bằng bị quân Trung Quốc tàn phá tháng 2.1979. Ảnh tư liệu

Trung tướng Khuất Duy Tiến, nguyên Cục trưởng Cục Quân lực Bộ Tổng tham mưu (Bộ Quốc phòng), Tư lệnh Quân đoàn 3:

Thiếu quân chủ lực vẫn đánh thắng

Khi Trung Quốc tràn sang (với vũ khí hiện đại như xe tăng, máy bay), ta chỉ có Sư 3 Sao Vàng là chủ lực, còn lại là dân quân… Thời điểm đó quân chủ lực đang chiến đấu ở Campuchia. Trung Quốc nghĩ rằng ta không có quân chủ lực thì có thể sẽ đánh nhanh, thắng nhanh. Song, tinh thần chiến đấu ý thức giữ vững độc lập chủ quyền của người dân Việt Nam rất cao, nên đã chặn đứng quân Trung Quốc ở biên giới. Chỉ là dân quân địa phương mà đánh như vậy, khi gặp lực lượng chủ lực thì sao?

Cuộc chiến tranh biên giới năm 1979 đã dạy chúng ta rằng, phải giữ lấy chủ quyền dân tộc, quốc gia nhưng phải tỉnh táo, khéo léo chớ gây ra chiến tranh. Tôi nghĩ rằng, trong năm nay hoặc sang năm phải có cuộc hội thảo xác định rõ cuộc tấn công của Trung Quốc năm 1979 là xâm lược Việt Nam, những chiến sĩ, người dân đã hy sinh trong chiến đấu để bảo vệ tổ quốc trong cuộc chiến này phải được công nhận là anh hùng, liệt sỹ. Dân tộc Việt Nam là dân tộc đời đời, bất di bất dịch nguyên tắc giữ vững toàn vẹn lãnh thổ. Đó là bài học mà từ già đến trẻ đều phải nhớ. Dân tộc độc lập thì mới tạo dựng được cuộc sống như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói là không gì quý hơn độc lập tự do. Để giữ được điều đó, về đối nội phải giáo dục cho người dân lòng yêu nước, luôn xây dựng đất nước như mục tiêu chúng ta đã đưa ra xây dựng đất nước dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ văn minh. Về đối ngoại thì thật khôn khéo, tỉnh táo, “lưỡi gươm thật sắc, nhưng bao giờ cũng phải sẵn sàng”. Làm sao cho thế giới hiểu, và đồng tình, giúp đỡ chúng ta. Làm sao cho họ thấy chúng ta là tấm gương độc lập tự do dân chủ, yêu chuộng hòa bình, xây dựng đất nước ngày càng phát triển. 

H.Vũ(ghi)

Bộ đội Việt Nam đánh trả quân Trung Quốc xâm lược tại Lạng Sơn năm 1979. Ảnh tư liệu

Nhà nghiên cứu Dương Danh Dy:

Trung Quốc phải thừa nhận

Việc xảy ra cuộc chiến tranh biên giới 17/2/1979 do Tung Quốc phát động, nguyên nhân chủ yếu là do phía Trung Quốc. Họ xứng đáng nhận sự lên án mạnh mẽ. Bởi vì dù cho có bất đồng quan hệ hai nước, TQ không thể mang quân đi đánh một nước láng giềng, từng là đồng minh của Trung Quốc, với một câu nói của Đặng Tiểu Bình là “dạy cho Việt Nam một bài học”.

Suốt 35 năm qua, Trung Quốc không lúc nào ngừng tuyên truyền trong nội bộ họ về cuộc chiến tranh biên giới. Các bài báo, các tác phẩm văn học, các tác phẩm điện ảnh… đều nêu lên một điều là họ đã thắng lớn trong cuộc chiến đó.

Nhưng riêng năm nay, đúng ngày 4.1.2014, mạng Nhân dân Trung Quốc lần đầu tiên đăng một bài viết “Cuộc đánh trả tự vệ thảm liệt năm 1979: Quân đội Trung – Việt trong 19 ngày đều bị tổn thất và thương vong 50 nghìn người”. Sau đó bài này được mạng Phượng Hoàng đăng lại. Tức là lần đầu tiên Trung Quốc thừa nhận rằng trong cuộc chiến tranh cách đây 35 năm trong 20 ngày đầu tiên tổn thất về người của cả hai bên là như nhau, khác hoàn toàn với quan điểm trước đó là Trung Quốc đã thắng cuộc chiến tranh đó.

Như vậy, đấy là sự thực mà trước đây họ che giấu nhân dân Trung Quốc, và họ cuối cùng phải thừa nhận rằng đây là cuộc chiến tranh rất đẫm máu.

H. Phan(ghi)

Xe tăng Trung Quốc bị ta bắn hạ tại Cao Bằng, sáng 17-2 - Ảnh: Mạnh Thường

Đạo diễn Trần Văn Thủy:

Luận về cuộc chiến, cần sự ngay thẳng

Năm 1978, trở về từ Liên Xô sau khóa học về đạo diễn, ông Trần Văn Thủy được giao làm phim về cuộc chiến tranh biên giới. Bộ phim có tên Phản Bội, được giải Vàng tại Liên hoan phim Việt Nam 1986.  Ông chia sẻ:

Từ khoảng tháng 3/1978, đã bắt đầu có những dấu hiệu bất đồng. Linh tính mách bảo tôi: chiến tranh sẽ xảy ra, thời điểm đó có những vấn đề khác nổi lên như “nạn kiều”, Bắc Luân..  Tất cả các nhà làm phim tài liệu trong Nam ngoài Bắc đều được đưa lên vùng biên giới.

Tình hình xấu đi rất nhanh và cuộc chiến đã xảy ra. Tôi được phân công làm bộ phim tài liệu rất dài, gần 3 tiếng, dài nhất trong lịch sử phim tài liệu Việt Nam, sau này được đặt tên là Phản Bội.

Nỗi mất mát đau đớn của đồng bào 6 tỉnh phía bắc… Với số đông người Việt Nam, họ sững sờ và kinh hoàng không thể tưởng tượng được. Từ Lào Cai sang Cao Bằng, Lạng Sơn… chúng tôi đã chứng kiến và lắng nghe những câu chuyện vô cùng đau đớn. Luận bàn về cuộc chiến này cần nhiều giấy mực, thời gian và cả sự ngay thẳng.

Tính từ thời điểm đó đến nay đã mấy chục năm, nhưng vết đau ấy vẫn không thể xóa. Nếu ngày hôm nay, vì bất cứ lý do gì, mà ta lãng quên đi những con người đã ngã xuống trong một cuộc chiến cực kỳ vô lý và tàn bạo ấy, sẽ là một tội lỗi vô cùng lớn. Tôi đã nói điều này trong cuốn Chuyện nghề của Thủy.

Bộ phim Phản bội khi đó được đón nhận hào hứng. Vào thời điểm đó,  nó phù hợp với thái độ của người dân Việt Nam về chuyện chủ quyền đất nước, và sự phẫn nộ với cuộc chiến tàn bạo. Người xem bất ngờ và đồng tình về sự hấp dẫn, độ chính xác về lịch sử và những vấn đề đặt ra. Có thể nói trong tất cả những bộ phim của tôi chưa từng làm có sự đồng thuận của tất cả mọi người, mọi cấp như thế.  Bộ phim đã được chiếu rất nhiều lần, ở nhiều nơi, được nhận giải vàng Liên hoan phim Việt Nam 1980. 

H. Hường(ghi)

Nhóm thực hiện: Mỹ Hòa - Lan Hương - H.Vũ - H.Phan - H.Hường (nguồn: vietnamnet.vn)

Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam: Im lặng trước cái xấu cũng không tốt

Thay mặt Chính phủ biểu dương thành tích đóng góp của ngành văn hóa, thể thao và du lịch trong năm 2013 vào thành tựu chung, nhiệm vụ chung của đất nước, Phó Thủ tướng cũng đồng thời đưa ra những phát biểu chỉ đạo đối với lãnh đạo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch nói riêng và toàn ngành nói chung để tạo đà phát triển bền vững cho những năm sau.

Theo Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam, điều quan trọng nhất với lĩnh vực văn hóa là tạo ra được một không khí, một môi trường thực sự tự do về tinh thần (tự do trong định hướng, khuôn khổ vì lợi ích chung) để các cá nhân sáng tạo ra những giá trị của dân tộc và cũng là giá trị của nhân loại có thể phát huy sáng tạo.

Cho rằng từ trung ương tới địa phương khó nhất là sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan quản lý Nhà nước, các ngành chức năng nên Phó Thủ tướng đề nghị: “Bộ nên tập trung vào phát huy sức mạnh của các Hội, rà soát lại và cần thiết thì ngồi làm việc với các Hội trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch để phát huy tối đa vai trò của các Hội. Vì suy cho cùng bộ máy hành chính Nhà nước và Nhà nước không thể làm hết mọi việc được. Chúng ta phải dựa trên văn bản quy phạm pháp luật ban hành để phát huy các Hội thay vì cầm tay chỉ việc.”

Theo Phó Thủ tướng, vấn đề tồn tại bây giờ là công tác nghiên cứu khoa học dường như mới chỉ chú ý nhiều đến khoa học kỹ thuật công nghệ, còn nghiên cứu khoa học trong khối văn hóa, xã hội, khoa học nhân văn kết hợp sáng tác chưa được đào sâu nên cần làm sao để kết hợp được với đào tạo.

“Trong một chuyến đi thăm địa phương, đến một trường nghệ thuật, thấy các cháu lên sân khấu biểu diễn ai cũng thấy đẹp, long lanh nhưng đến khi đi thăm nơi ăn ở, hỏi về những khó khăn của các cháu mới thấy không ổn chút nào. Vậy thì bây giờ các trường trong khối quản lý của Bộ phải làm thế nào? Tôi đề nghị không phân biệt trường đó là của ai, của Bộ giáo dục hay của tỉnh nào, nếu đã đào tạo về văn học nghệ thuật thì Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vừa phải có trách nhiệm quản lý nhưng quan trọng hơn là ‘kêu’ thay cho trường đó,” Phó Thủ tướng chỉ đạo.

Ông cũng khẳng định, trong năm 2014 này Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cần tập trung vào công tác hỗ trợ các văn nghệ sỹ trong hoạt động sáng tác nghệ thuật, dù các đề tài nghiên cứu có thể đã được kết hợp với các chương trình quốc gia.

Theo Phó Thủ tướng, ngành văn hóa cũng không nhất thiết phải xây dựng các chương trình nghệ thuật bằng ngân sách mà có thể khuyến khích các doanh nghiệp làm “Mạnh thường quân” để cùng bắt tay vào làm.

“Cái gì không hợp với thuần phong mỹ tục cần kiên quyết đấu tranh loại bỏ. Còn hội nhập mà hợp thì phải tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất có thể, khuyến khích và kết hợp với du lịch để mang những giá trị văn hóa đó vào sâu hơn trong nhân dân. Qua đó, nền nghệ thuật cổ truyền cũng có cơ hội tiếp cận được với đương đại,” Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam nhấn mạnh./.

Về công tác kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm của ngành văn hóa, thể thao và du lịch trong năm 2013, Thứ trưởng Huỳnh Vĩnh Ái cho hay, Bộ đã triển khai 11 cuộc thanh tra hành chính và chống tham nhũng tại 11 đơn vị thuộc Bộ, ban hành 09 kết luận thanh tra; phát hiện 03/9 đơn vị có vi phạm...Riêng về du lịch, các doanh nghiệp thường kinh doanh lữ hành quốc tế mà không có giấy phép, không treo quyết định công nhận lại hạng cơ sở lưu trú...; xử phạt vi phạm hành chính, nộp kho bạc nhà nước tổng số tiền 2 tỷ 979 triệu đồng. Trong đó xử phạt lĩnh vực văn hóa 2 tỷ 33 triệu đồng, lĩnh vực thể thao là 54 triệu đồng, lĩnh vực du lịch là gần 900 triệu đồng.Lực lượng thanh tra chuyên ngành các địa phương trong năm qua cũng đã tiến hành thanh tra, kiểm tra 11.842 lượt cơ sở kinh doanh, dịch vụ trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch, trong đó phát hiện 3.334 cơ sở vi phạm. Tổng số tiền xử phạt vi phạm hành chính là 23 tỷ 849 triệu đồng.

(Vietnam+)

VAI TRÒ CỦA CHÍNH PHỦ TRONG QUÁ TRÌNH SỬA ĐỔI, BỔ SUNG VÀ TỔ CHỨC THI HÀNH HIẾN PHÁP

Chiều ngày 5/1, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dẫn đầu đoàn công tác Trung ương đã có buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh Kon Tum về tình hình kinh tế-xã hội của địa phương.

Kể từ ngày 1/1/2014, Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam chính thức có hiệu lực thi hành. Nhân sự kiện quan trọng này, Báo Điện tử Chính phủ trân trọng giới thiệu bài viết: “Vai trò của Chính phủ trong quá trình sửa đổi, bổ sung và tổ chức thi hành Hiến pháp” của Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc.
 
Hiến pháp là văn kiện chính trị - pháp lý quan trọng, là nhân tố bảo đảm sự ổn định chính trị - xã hội và chủ quyền của quốc gia, là đạo luật gốc, đạo luật cơ bản của Nhà nước. Kể từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đến nay, nước ta đã có 4 bản Hiến pháp: Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2001). Các bản Hiến pháp này được ra đời trong những bối cảnh và thời điểm lịch sử nhất định nhằm thể chế hóa đường lối cách mạng của Đảng cho mỗi giai đoạn phát triển của đất nước.
 
Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi, bổ sung lần này nhằm khắc phục những hạn chế, vướng mắc trong quá trình thực thi Hiến pháp năm 1992; bảo đảm sự phù hợp với các văn kiện Đại hội Đảng XI, phù hợp với tình hình mới của đất nước với những bước phát triển về dân chủ, kinh tế thị trường và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN.
 
Nghiêm túc thực hiện các Nghị quyết, Kết luận của Ban chấp hành Trung ương và Quốc hội về sửa đổi Hiến pháp, theo sự phân công của Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, với trách nhiệm là cơ quan tổ chức thi hành Hiến pháp và pháp luật, Chính phủ đã quyết liệt chỉ đạo các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong công tác tổng kết thi hành Hiến pháp và tổ chức lấy ý kiến góp ý vào Dự thảo Hiến pháp sửa đổi.
 
Ban Chỉ đạo của Chính phủ về tổng kết thi hành Hiến pháp năm 1992 được thành lập do 1 Phó Thủ tướng làm Trưởng Ban đã kịp thời ban hành các văn bản chỉ đạo, kế hoạch triển khai cụ thể và thường xuyên tổ chức họp định kỳ với các thành viên Ban Chỉ đạo.
 
Việc tổ chức công tác tổng kết việc thi hành Hiến pháp năm 1992 cũng như lấy ý kiến đối với Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 của Chính phủ được thực hiện một cách quy mô, bài bản, nghiêm túc, khoa học, huy động được sự tham gia của mọi tầng lớp nhân dân, thống nhất từ Trung ương đến địa phương. Các Bộ, ngành, địa phương đã tham gia tích cực, khẩn trương vào hoạt động sửa đổi, bổ sung Hiến pháp, xác định hoạt động tổng kết thi hành Hiến pháp năm 1992 là nhiệm vụ trọng tâm của năm 2012 và việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân đối với Dự thảo sửa đổi Hiến pháp là nhiệm vụ trọng tâm của năm 2013.
 
Chính phủ đã kịp thời có các báo cáo tổng kết thi hành Hiến pháp và báo cáo về kết quả lấy ý kiến vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp để phục vụ cho việc xây dựng Dự thảo sửa đổi Hiến pháp. Trên cơ sở tổng hợp, nghiên cứu, tiếp thu các ý kiến, đề xuất của các Bộ, ngành, địa phương, Chính phủ đã chủ động, tích cực tham gia sâu vào quá trình đề xuất chỉnh lý, hoàn thiện các nội dung của Dự thảo Hiến pháp sửa đổi và có các báo cáo góp ý, đề xuất chỉnh lý, hoàn thiện nội dung Dự thảo Hiến pháp sửa đổi. Nhiều nội dung đề xuất trong các báo cáo của Chính phủ đã được đưa vào Dự thảo Hiến pháp sửa đổi.
 
Ngày 28 tháng 11 năm 2013, Hiến pháp sửa đổi được Quốc hội khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 6 là một sự kiện chính trị - pháp lý quan trọng của đất nước. Nội dung Hiến pháp sửa đổi tiếp tục khẳng định bản chất và mô hình tổng thể của thể chế chính trị đã được xác định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), khẳng định thể chế của nước ta là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước dân chủ, độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Hiến pháp sửa đổi nhấn mạnh hơn nữa tư tưởng chủ quyền nhân dân; bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, trong đó, đại đoàn kết toàn dân tộc là động lực của phát triển xã hội.
 
Khẳng định giá trị, vai trò quan trọng của quyền con người, quyền công dân, Hiến pháp quy định trách nhiệm của Nhà nước, xã hội trong việc tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân và có cơ chế đảm bảo thực hiện các quyền đó. Hiến pháp sửa đổi còn quy định nguyên tắc quan trọng là quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị giới hạn trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức, sức khỏe của cộng đồng. Ngoài ra, phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế, Hiến pháp sửa đổi đã ghi nhận đầy đủ các quyền dân sự - chính trị theo các công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, quy định các quyền về kinh tế, xã hội và văn hoá phù hợp với trình độ và điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
 
Các quy định của Hiến pháp sửa đổi đã làm rõ hơn tính chất, mô hình kinh tế, vai trò quản lý của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, chế độ sở hữu và quyền tự do kinh doanh, về quản lý, sử dụng ngân sách Nhà nước, dự trữ quốc gia và các nguồn tài chính công khác. Hiến pháp sửa đổi tiếp tục khẳng định nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, các thành phần kinh tế hợp tác, bình đẳng và cạnh tranh theo pháp luật, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo.
 
Hiến pháp sửa đổi đã quy định rõ các định hướng chính sách phát triển trong từng lĩnh vực xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường và làm rõ các chính sách, mục tiêu cơ bản để bảo đảm phát triển bền vững trong từng lĩnh vực theo hướng bảo đảm tính khả thi và phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời gian tới; đồng thời cũng xác định rõ vai trò của Nhà nước trong việc bảo đảm thực hiện các chính sách và các quyền công dân liên quan đến một số lĩnh vực.
 
Về tổ chức bộ máy Nhà nước, Hiến pháp sửa đổi đã cụ thể hóa nguyên tắc kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan trong bộ máy Nhà nước. Vị trí, vai trò, chức năng của các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp đã được quy định rành mạch, phù hợp hơn.
 
Hiến pháp sửa đổi tiếp tục khẳng định Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước. Đồng thời, Hiến pháp sửa đổi cũng phân định rõ hơn nhiệm vụ của Quốc hội trong việc quyết định mục tiêu, chỉ tiêu, chính sách và nhiệm vụ cơ bản phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; qua đó, làm rõ hơn trách nhiệm của Chính phủ trong việc chủ động, sáng tạo trong điều hành kinh tế - xã hội và quyết định các vấn đề không thuộc thẩm quyền của Quốc hội hoặc các vấn đề được Quốc hội ủy quyền bằng luật.
 
Chính phủ được xác định rõ là cơ quan thực hiện quyền hành pháp, cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất, cơ quan chấp hành của Quốc hội với các nhiệm vụ, quyền hạn được quy định mang tính khái quát và phù hợp hơn. Các quy định này là cơ sở hiến định quan trọng để giúp Chính phủ thể hiện khả năng kiến tạo, có thể ứng phó với các tình huống trong quá trình quản lý toàn diện mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, theo đúng tinh thần “kiện toàn bộ máy Chính phủ, nâng cao hiệu quả quản lý vĩ mô, nhất là chất lượng xây dựng thể chế, quy hoạch, năng lực dự báo và khả năng phản ứng chính sách trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế”.
 
Nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Chính phủ đã có sự phân định rành mạch với nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ tướng Chính phủ, của Bộ trưởng. Đặc biệt, nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ tướng Chính phủ được quy định tương xứng với vị trí của người đứng đầu Chính phủ và hệ thống hành chính Nhà nước, bảo đảm cơ sở hiến định để Thủ tướng Chính phủ có thể phát huy vai trò, trách nhiệm trong lãnh đạo Chính phủ, trong định hướng, điều hành hoạt động của Chính phủ và lãnh đạo hệ thống hành chính Nhà nước từ Trung ương đến địa phương, bảo đảm tính thống nhất và thông suốt của nền hành chính quốc gia.
 
Các quy định của Hiến pháp sửa đổi cũng đề cao, phát huy hơn vai trò, trách nhiệm của Bộ trưởng trong quản lý đối với ngành, lĩnh vực và trách nhiệm chính trị của Bộ trưởng trước nhân dân.
 
Về chính quyền địa phương, Hiến pháp sửa đổi đã thể chế hóa các quan điểm của Đảng về đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương, bảo đảm về mặt lý luận cũng như thực tiễn, chính quyền địa phương phải là một tổng thể thống nhất, có cơ quan đại diện của nhân dân địa phương – Hội đồng nhân dân và cơ quan hành chính - Ủy ban nhân dân, có chức năng bảo đảm tính thống nhất trong việc thi hành Hiến pháp, pháp luật và bảo đảm sự quản lý, điều hành thông suốt từ Trung ương đến địa phương, phù hợp mô hình Nhà nước đơn nhất.
 
Các quy định của Hiến pháp là nền tảng pháp lý quan trọng để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, tổ chức, nguyên tắc hoạt động, nguồn lực và chế độ trách nhiệm của chính quyền địa phương nhằm khắc phục những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn thi hành Hiến pháp năm 1992, đồng thời bảo đảm sự đổi mới đồng bộ về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước ở Trung ương và địa phương, bảo đảm tính thống nhất, thông suốt của nền hành chính Nhà nước và bảo đảm tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hiệu quả hoạt động của các cấp chính quyền địa phương cũng như chính quyền Trung ương trong phạm vi thẩm quyền và nguồn lực được giao.
 
Hiến pháp sửa đổi cũng đã thể hiện được khái quát ở tầm hiến định các nhiệm vụ cơ bản của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân để làm cơ sở cho việc luật định các nhiệm vụ cụ thể của cơ quan này; xác định rõ thẩm quyền của Hội đồng nhân dân trong việc quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương cũng như tổ chức thi hành pháp luật tại địa phương.
 
Với nhiều nội dung mới như nêu trên, việc tổ chức triển khai kịp thời, có hiệu quả Hiến pháp sửa đổi là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của cả hệ thống chính trị, nhất là Chính phủ với vị trí là cơ quan hành pháp, cơ quan chấp hành Hiến pháp và pháp luật.
 
Trong hai năm vừa qua, Chính phủ đã hoàn thành tốt nhiệm vụ tổng kết thi hành Hiến pháp năm 1992 và tổ chức lấy ý kiến đối với Dự thảo Hiến pháp sửa đổi. Trong thời gian tới, Chính phủ tiếp tục có nhiệm vụ nặng nề và rất quan trọng là tổ chức triển khai thi hành Hiến pháp theo đúng quy định của Hiến pháp sửa đổi năm 2013: Chính phủ có nhiệm vụ "tổ chức thi hành Hiến pháp và pháp luật".
 
Với vai trò, nhiệm vụ của cơ quan tổ chức thi hành pháp luật, Chính phủ không chỉ là cơ quan đề xuất, trình, ban hành phần lớn các văn bản pháp luật mà còn phải tổ chức thi hành các văn bản pháp luật phù hợp với nội dung và tinh thần của Hiến pháp sửa đổi, hay nói cách khác, là thể chế hóa các quy định của Hiến pháp và đưa các quy định của Hiến pháp đi vào cuộc sống.
 
Căn cứ Kế hoạch triển khai thi hành Hiến pháp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ sẽ ban hành Kế hoạch của mình để tổ chức thực hiện thống nhất các hoạt động triển khai thi hành Hiến pháp trong phạm vi toàn quốc, trong đó tập trung vào các nội dung:
 
1/ Đẩy mạnh tổ chức tuyên truyền, phổ biến, tập huấn, quán triệt nội dung của Hiến pháp sửa đổi nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết của các tầng lớp nhân dân và đội ngũ cán bộ, công chức trong phạm vi cả nước về nội dung, tinh thần của các quy định của Hiến pháp sửa đổi;
 
2/ Tổ chức rà soát toàn diện các văn bản pháp luật, nhất là các luật, pháp lệnh, để lập danh mục đề xuất và báo cáo với Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội các luật, pháp lệnh cần sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới phù hợp với quy định của Hiến pháp sửa đổi;
 
3/ Khẩn trương xây dựng, soạn thảo các dự án luật, pháp lệnh sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới phù hợp với Hiến pháp sửa đổi, đặc biệt là các luật về tổ chức bộ máy Nhà nước, chính quyền địa phương;
 
4/ Tăng cường năng lực của các thiết chế xây dựng, thực thi, bảo vệ Hiến pháp và pháp luật; nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả Hiến pháp sửa đổi.
 
Để việc thi hành Hiến pháp sửa đổi có hiệu quả và để các quy định, các giá trị của Hiến pháp sửa đổi phát huy đầy đủ hiệu lực trên thực tế, trong Phiên họp Chính phủ cuối năm vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã xác định việc triển khai thi hành Hiến pháp sửa đổi là nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới và cần phải huy động sự tham gia ủng hộ, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, toàn Đảng, toàn dân, các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội... để bảo đảm phát huy được vai trò tối thượng của Hiến pháp nói riêng và vai trò của pháp luật nói chung trong đời sống xã hội./.
 
Theo Chính phủ

Phó Bí thư Thường trực Thành ủy TPHCM Nguyễn Văn Đua thăm các cơ sở tôn giáo

Nhân dịp Giáng sinh năm 2013, ngày 23/12, Đoàn cán bộ TPHCM do đồng chí Nguyễn Văn Đua, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy TPHCM làm trưởng đoàn đã đến thăm và chúc mừng Tổng Giáo phận TP, UB Đoàn kết Công giáo TP và Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam). Cùng dự có các đồng chí: Hứa Ngọc Thuận, Phó Chủ tịch UBNDTP; Võ Thị Dung, Chủ tịch UBMTTQVN TPHCM.

Đến thăm Tổng Giáo phận TPHCM, đồng chí Nguyễn Văn Đua chúc Đức Hồng y Phạm Minh Mẫn, Tổng Giám mục Tổng Giáo phận TPHCM và bà con giáo dân luôn dồi dào sức khỏe. Đánh giá cao những đóng góp quan trọng của bà con giáo dân trong phát triển TP và tích cực tham gia các hoạt động từ thiện, đồng chí Phó Bí thư Thành ủy mong muốn đồng bào công giáo phát huy truyền thống “Sống phúc âm trong lòng dân tộc”; cùng chung tay xây dựng TPHCM “Văn minh, hiện đại, nghĩa tình”. Đức Hồng y Phạm Minh Mẫn cảm ơn các cấp chính quyền của TP tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho Tổng Giáo phận thực hiện các công việc của mình và cho biết, thời gian qua, Tổng Giáo phận TPHCM đã phối hợp với chính quyền địa phương và vận động bà con giáo dân tham gia các hoạt động từ thiện, chương trình công tác xã hội.

Đến thăm Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam), Phó Bí thư Thường trực Thành ủy TPHCM Nguyễn Văn Đua đánh giá cao thành công Đại hội lần thứ 46 của Hội và chúc mừng Mục sư Phan Vĩnh Cựu đã được bầu làm Hội trưởng. Sau thông báo tình hình phát triển của TP, đồng chí khẳng định thành phố luôn thực thi tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về tôn giáo. Đồng chí Nguyễn Văn Đua cảm ơn những sáng kiến của bà con giáo dân trong lao động, sản xuất và chúc các chức sắc, bà con giáo dân đón Giáng sinh ấm áp, hạnh phúc.

Trước đó, đoàn đã tới thăm và chúc mừng UB Đoàn kết Công giáo TP. Đánh giá cao những đóng góp của các linh mục, tu sĩ trong UB Đoàn kết Công giáo TP nhằm tăng cường tình đoàn kết tương thân tương ái giữa bà con giáo dân với các tầng lớp nhân dân TP và các địa phương khác, thay mặt lãnh đạo TP, đồng chí Nguyễn Văn Đua chúc các chức sắc, bà con giáo dân luôn an lành, đoàn kết, tích cực tham gia xây dựng TP ngày càng phát triển.

Nguyễn Nam: Nguồn hcmcpv.org.vn

Đảng ủy Khối Bộ Xây dựng tại TP.HCM: khai giảng lớp Bồi dưỡng đảng viên mới

Sáng 06/12., Ban Thường vụ Đảng ủy khối cơ sở Bộ Xây dựng phối hợp cùng Khoa Xây dựng Đảng, Trường cán bộ TP.HCM đã tổ chức khai giảng lớp Bồi dưỡng lý luận chính trị cho đảng viên mới đợt 2 năm 2013.

Tới dự lễ khai giảng có đại diện Ban Thường vụ Đảng ủy Khối, Ban Tuyên giáo, Văn phòng Đảng ủy khối và gần 100 đảng viên mới tại các Đảng bộ, Chi bộ trược thuôc Đảng ủy khối về tham dự .

Phát biểu khai mạc, đồng chí Nguyễn Phong Nhật, Phó Bí thư Thường trực Đảng uỷ Khối nhấn mạnh: Bồi dưỡng lý luận chính trị đối với đảng viên mới là khâu tất yếu quan trọng, trong đó nhiệm vụ chính nhằm giúp các đồng chí đảng viên mới nắm được những kiến thức cơ bản, cốt lõi về chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; về những vấn đề cơ bản của đường lối cách mạng Việt Nam, đồng thời hiểu rõ về những nhiệm vụ của người đảng viên...

Trên cơ sở đó, mỗi đảng viên mới cần xây dựng kế hoạch phấn đấu, rèn luyện để trở thành đảng viên chính thức, xứng đáng với danh hiệu đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Theo chương trình học tập, các học viên sẽ được nghiên cứu 9 chuyên đề theo Hướng dẫn của Ban Tuyên giáo Trung ương, nghiên cứu Nghị quyết số 12 – Hội nghị BCH Trung ương Đảng lần thứ tư (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”.

Khóa học sẽ kết thúc vào ngày 09/12 và các đảng viên sẽ làm bài thu hoạch nộp về Đảng ủy khối.

Phường Mai – Xuân Ngọc (nguồn: baoxaydung.com.vn)

Sơ kết 1 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về công tác xây dựng Đảng

Ngày 29/11, Đảng bộ Khối cơ sở Bộ Xây dựng tại TP.HCM đã tổ chức Hội nghị cán bộ chủ chốt sơ kết 1 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 về công tác xây dựng Đảng gắn với "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" theo Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị.

Theo đánh giá của Ban Thường vụ Đảng ủy Khối, sau hơn 1 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay", Đảng bộ Khối đã tập trung khắc phục những hạn chế, khuyết điểm sau kiểm điểm.

Những kết quả đạt được tuy mới chỉ là bước đầu song có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng đối với việc triển khai và thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị trong toàn Đảng bộ Khối.

Đảng ủy Khối đã triển khai kịp thời, đổi mới phương pháp học tập, quán triệt các Nghị quyết, chỉ thị của Đảng; làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, phổ biến kịp thời có hiệu quả các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước tới toàn thể cán bộ, đảng viên và người lao động.

Chú trọng đến việc đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt trong đảng, duy trì đúng sinh hoạt định kỳ chi bộ. Các chi bộ đã đưa nội dung Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh vào sinh hoạt định kỳ hàng tháng, gắn học tập với thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, nêu cao tinh thần tự phê bình và phê bình đối với từng đảng viên, góp phần nâng cao vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, tính tiên phong gương mẫu của đảng viên.

Bên cạnh đó, Đảng ủy Khối đặc biệt coi trọng công tác kiểm tra, giám sát đối với tổ chức đảng và đảng viên nhằm ngăn ngừa những vi phạm, kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những khuyết điểm, hạn chế.

Tính đến tháng 11/2013, UBKT Đảng bộ Khối đã tiến hành 15 đợt kiểm tra. Sau 1 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, hầu hết cán bộ, đảng viên đều thực hiện nghiêm túc Điều lệ Đảng, gương mẫu về đạo đức lối sống của người đảng viên, gần gũi với quần chúng nhân dân và người lao động trong cơ quan, đơn vị.

Cũng trong hội nghị cán bộ chủ chốt sơ kết 01 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 về công tác xây dựng Đảng, cán bộ chủ chốt trong toàn Đảng bộ đã giao lưu với một số đồng chí cán bộ lão thành đã từng vinh dự gặp Bác Hồ, các đồng chí là cán bộ, đảng viên tiêu biểu trong “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” qua đó nhân rộng các tấm gương điển hình trong “học tập và làm theo lời Bác”, giúp cho cán bộ, đảng viên hiểu sâu sắc hơn về tầm quan trọng trong việc đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Đồng thời góp phần vào việc thực hiện thắng lợi công tác xây dựng Đảng và nhiệm vụ chính trị trong toàn Đảng bộ Khối trong thời gian tới.

Phương Mai - Xuân Ngọc

 

ĐOÀN KHỐI CƠ SỞ BỘ XÂY DỰNG

Địa chỉ: Lầu 4, Số 14, Kỳ Đồng, F.9, Q.3, TP. HCM
Điện thoại: (08) 22 41 45 92 - Fax: (08) 3 5262560
Website: www.tuoitreboxaydung.vn
Visitors
5
Articles
589
Web Links
9
Articles View Hits
1433161