• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo

Ngày 4-11-2013, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI Nghị quyết số 29-NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. TTXVN giới thiệu toàn văn Nghị quyết:  
   
  A- TÌNH HÌNH VÀ NGUYÊN NHÂN   
  1- Thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII và các chủ trương của Đảng, Nhà nước về định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lĩnh vực giáo dục và đào tạo nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cụ thể là: Đã xây dựng được hệ thống giáo dục và đào tạo tương đối hoàn chỉnh từ mầm non đến đại học. Cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục, đào tạo được cải thiện rõ rệt và từng bước hiện đại hóa. Số lượng học sinh, sinh viên  tăng nhanh, nhất là ở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp. Chất lượng giáo dục và đào tạo có tiến bộ. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục phát triển cả về số lượng và chất lượng, với cơ cấu ngày càng hợp lý. Chi ngân sách cho giáo dục và đào tạo đạt mức 20% tổng chi ngân sách nhà nước. Xã hội hóa giáo dục được đẩy mạnh hệ thống giáo dục và đào tạo ngoài công lập góp phần đáng kể vào phát triển giáo dục và đào tạo chung của toàn xã hội. Công tác quản lý giáo dục và đào tạo có bước chuyển biến nhất định.
  
      Cả nước đã hoàn thành mục tiêu xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000 phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào năm 2010 đang tiến tới phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi củng cố và nâng cao kết quả xóa mù chữ cho người lớn. Cơ hội tiếp cận giáo dục có nhiều tiến bộ, nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số và các đối tượng chính sách cơ bản bảo đảm bình đẳng giới trong giáo dục và đào tạo.
    


    Những thành tựu và kết quả nói trên, trước hết bắt nguồn từ truyền thống hiếu học của dân tộc sự quan tâm, chăm lo của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, của mỗi gia đình và toàn xã hội sự tận tụy của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục sự ổn định về chính trị cùng với những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
     
    2- Tuy nhiên, chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu, nhất là giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp. Hệ thống giáo dục và đào tạo thiếu liên thông giữa các trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo còn nặng lý thuyết, nhẹ thực hành. Đào tạo thiếu gắn kết với nghiên cứu khoa học, sản xuất, kinh doanh và nhu cầu của thị trường lao động chưa chú trọng đúng mức việc giáo dục đạo đức, lối sống và kỹ năng làm việc. Phương       pháp giáo dục, việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả còn lạc hậu, thiếu thực chất.
     
    Quản lý giáo dục và đào tạo còn nhiều yếu kém. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu một bộ phận chưa theo kịp yêu cầu đổi mới và phát triển giáo dục, thiếu tâm huyết, thậm chí vi phạm đạo đức nghề nghiệp.
     
    Đầu tư cho giáo dục và đào tạo chưa hiệu quả. Chính sách, cơ chế tài chính cho giáo dục và đào tạo chưa phù hợp. Cơ sở vật chất kỹ thuật còn thiếu và lạc hậu, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.
     
    3-Những hạn chế, yếu kém nói trên do các nguyên nhân chủ yếu sau:
      
 - Việc thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển giáo dục và đào tạo, nhất là quan điểm "giáo dục là quốc sách hàng đầu" còn chậm và lúng túng. Việc xây dựng, tổ chức thực hiện chiến lược, kế hoạch và chương trình phát triển giáo dục - đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu của xã hội.
   
 - Mục tiêu giáo dục toàn diện chưa được hiểu và thực hiện đúng. Bệnh hình thức, hư danh, chạy theo bằng cấp... chậm được khắc phục, có mặt nghiêm trọng hơn. Tư duy bao cấp còn nặng, làm hạn chế khả năng huy động các nguồn lực xã hội đầu tư cho giáo dục, đào tạo.
  
 - Việc phân định giữa quản lý nhà nước với hoạt động quản trị trong các cơ sở giáo dục, đào tạo chưa rõ. Công tác quản lý chất lượng, thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa được coi trọng đúng mức. Sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và gia đình chưa chặt chẽ. Nguồn lực quốc gia và khả năng của phần đông gia đình đầu tư cho giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu.
  
B- ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI CĂN BẢN, TOÀN DIỆN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO              
 I- QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO
  
  1-  Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
  
  2-  Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục - đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học. Trong quá trình đổi mới, cần kế thừa, phát huy những thành tựu, phát triển những nhân tố mới, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của thế giới kiên quyết chấn chỉnh những nhận thức, việc làm lệch lạc. Đổi mới phải bảo đảm tính hệ thống, tầm nhìn dài hạn, phù hợp với từng loại đối tượng và cấp học các giải pháp phải đồng bộ, khả thi, có trọng tâm, trọng điểm, lộ trình, bước đi phù hợp.
  
  3-  Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành lý luận gắn với thực tiễn giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.
  
  4-  Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc với tiến bộ khoa học và công nghệ phù hợp quy luật khách quan. Chuyển phát triển giáo dục và đào tạo từ chủ yếu theo số lượng sang chú trọng chất lượng và hiệu quả, đồng thời đáp ứng yêu cầu số lượng.  
  5-  Đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa các bậc học, trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo. Chuẩn hoá, hiện đại hoá giáo dục và đào tạo.
  
  6-  Chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển giáo dục và đào tạo. Phát triển hài hòa, hỗ trợ giữa giáo dục công lập và ngoài công lập, giữa các vùng, miền. Ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo đối với các vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và các đối tượng chính sách. Thực hiện dân chủ hóa, xã hội hóa giáo dục và đào tạo.
  
  7-  Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để phát triển giáo dục và đào tạo, đồng thời giáo dục và đào tạo phải đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế để phát triển đất nước.
  
     II- MỤC TIÊU      

     1- Mục tiêu tổng quát 
            
     Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân. Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào sống tốt và làm việc hiệu quả.
      
     Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng chuẩn hóa, hiện đại hoá, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc. Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực.
      
     2- Mục tiêu cụ thể       

     - Đối với giáo dục mầm non, giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm, hiểu biết, thẩm mỹ, hình thành các yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị tốt cho trẻ bước vào lớp 1. Hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi vào năm 2015, nâng cao chất lượng phổ cập trong những năm tiếp theo và miễn học phí trước năm 2020. Từng bước chuẩn hóa hệ thống các trường mầm non. Phát triển giáo dục mầm non dưới 5 tuổi có chất lượng phù hợp với điều kiện của từng địa phương và cơ sở giáo dục.
    
   - Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời. Hoàn thành việc xây dựng chương trình giáo dục phổ thông giai đoạn sau năm 2015. Bảo đảm cho học sinh có trình độ trung học cơ sở (hết lớp 9) có tri thức phổ thông nền tảng, đáp ứng yêu cầu phân luồng mạnh sau trung học cơ sở trung học phổ thông phải tiếp cận nghề nghiệp và chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổ thông có chất lượng. Nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục, thực hiện giáo dục bắt buộc 9 năm từ sau năm 2020.
    
   Phấn đấu đến năm 2020, có 80% thanh niên trong độ tuổi đạt trình độ giáo dục trung học phổ thông và tương đương.
     
   - Đối với giáo dục nghề nghiệp , tập trung đào tạo nhân lực có kiến thức, kỹ năng và trách nhiệm nghề nghiệp. Hình thành hệ thống giáo dục nghề nghiệp với nhiều phương thức và trình độ đào tạo kỹ năng nghề nghiệp theo hướng ứng dụng, thực hành, bảo đảm đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ thuật công nghệ của thị trường lao động trong nước và quốc tế.
    
   - Đối với giáo dục đại học, tập trung đào tạo nhân lực trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài, phát triển phẩm chất và năng lực tự học, tự làm giàu tri thức, sáng tạo của người học. Hoàn thiện mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học, cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo phù hợp với quy hoạch phát triển nhân lực quốc gia trong đó, có một số trường và ngành đào tạo ngang tầm khu vực và quốc tế. Đa dạng hóa các cơ sở đào tạo phù hợp với nhu cầu phát triển công nghệ và các lĩnh vực, ngành nghề yêu cầu xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế.
    
   - Đối với giáo dục thường xuyên , bảo đảm cơ hội cho mọi người, nhất là ở vùng nông thôn, vùng khó khăn, các đối tượng chính sách được học tập nâng cao kiến thức, trình độ, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ và chất lượng cuộc sống tạo điều kiện thuận lợi để người lao động chuyển đổi nghề bảo đảm xóa mù chữ bền vững. Hoàn thiện mạng lưới cơ sở giáo dục thường xuyên và các hình thức học tập, thực hành phong phú, linh hoạt, coi trọng tự học và giáo dục từ xa.
    
   - Đối với việc dạy tiếng Việt và truyền bá văn hóa dân tộc cho người Việt Nam ở nước ngoài, có chương trình hỗ trợ tích cực việc giảng dạy tiếng Việt và truyền bá văn hóa dân tộc cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, góp phần phát huy sức mạnh của văn hóa Việt Nam, gắn bó với quê hương, đồng thời xây dựng tình đoàn kết, hữu nghị với nhân dân các nước.
       
   III- NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP
   
    1- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với đổi mới giáo dục và đào tạo    
  Quán triệt sâu sắc và cụ thể hóa các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục và đào tạo trong hệ thống chính trị, ngành giáo dục và đào tạo và toàn xã hội, tạo sự đồng thuận cao coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu. Nâng cao nhận thức về vai trò quyết định chất lượng giáo dục và đào tạo của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục người học là chủ thể trung tâm của quá trình giáo dục gia đình có trách nhiệm phối hợp với nhà trường và xã hội trong việc giáo dục nhân cách, lối sống cho con em mình.
   
  Đổi mới công tác thông tin và truyền thông để thống nhất về nhận thức, tạo sự đồng thuận và huy động sự tham gia đánh giá, giám sát và phản biện của toàn xã hội đối với công cuộc đổi mới, phát triển giáo dục. 
  
  Coi trọng công tác phát triển đảng, công tác chính trị, tư tưởng trong các trường học, trước hết là trong đội ngũ giáo viên. Bảo đảm các trường học có chi bộ các trường đại học có đảng bộ. Cấp ủy trong các cơ sở giáo dục - đào tạo phải thực sự đi đầu đổi mới, gương mẫu thực hiện và chịu trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân về việc tổ chức thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục, đào tạo. Lãnh đạo nhà trường phát huy dân chủ, dựa vào đội ngũ giáo viên, viên chức và học sinh, phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể và nhân dân địa phương để xây dựng nhà trường.
   
  Các bộ, ngành, địa phương xây dựng quy hoạch dài hạn phát triển nguồn nhân lực, dự báo nhu cầu về số lượng, chất lượng nhân lực, cơ cấu ngành nghề, trình độ. Trên cơ sở đó, đặt hàng và phối hợp với các cơ sở giáo dục, đào tạo tổ chức thực hiện.
       
   Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, giải quyết dứt điểm các hiện tượng tiêu cực kéo dài, gây bức xúc trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. 
          
   2- Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học
    
  Trên cơ sở mục tiêu đổi mới giáo dục và đào tạo, cần xác định rõ và công khai mục tiêu, chuẩn đầu ra của từng bậc học, môn học, chương trình, ngành và chuyên ngành đào tạo. Coi đó là cam kết bảo đảm chất lượng của cả hệ thống và từng cơ sở giáo dục và đào tạo là căn cứ giám sát, đánh giá chất lượng giáo dục, đào tạo.
   
  Đổi mới chương trình nhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài hòa đức, trí, thể, mỹ dạy người, dạy chữ và dạy nghề. Đổi mới nội dung giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, trình độ và ngành nghề tăng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và ý thức công dân. Tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống và đạo lý dân tộc,    tinh hoa văn hóa nhân loại, giá trị cốt lõi và nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Tăng cường giáo dục thể chất, kiến thức quốc phòng, an ninh và hướng nghiệp. Dạy ngoại ngữ và tin học theo hướng chuẩn hóa, thiết thực, bảo đảm năng lực sử dụng của người học. Quan tâm dạy tiếng nói và chữ viết của các dân tộc thiểu số dạy tiếng Việt và truyền bá văn hóa dân tộc cho người Việt Nam ở nước ngoài.
    
  Đa dạng hóa nội dung, tài liệu học tập, đáp ứng yêu cầu của các bậc học, các chương trình giáo dục, đào tạo và nhu cầu học tập suốt đời của mọi người.
   
  Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học.
   
  Tiếp tục đổi mới và chuẩn hóa nội dung giáo dục mầm non, chú trọng kết hợp chăm sóc, nuôi dưỡng với giáo dục phù hợp với đặc điểm tâm lý, sinh lý, yêu cầu phát triển thể lực và hình thành nhân cách.   
  Xây dựng và chuẩn hóa nội dung giáo dục phổ thông theo hướng hiện đại, tinh gọn, bảo đảm chất lượng, tích hợp cao ở các lớp học dưới và phân hóa dần ở các lớp học trên giảm số môn học bắt buộc tăng môn học, chủ đề và hoạt động giáo dục tự chọn. Biên soạn sách giáo khoa, tài liệu hỗ trợ dạy và học phù hợp với từng đối tượng học, chú ý đến học sinh dân tộc thiểu số và học sinh khuyết tật.
   
  Nội dung giáo dục nghề nghiệp được xây dựng theo hướng tích hợp kiến thức, kỹ năng, tác phong làm việc chuyên nghiệp để hình thành năng lực nghề nghiệp cho người học.
   
  Đổi mới mạnh mẽ nội dung giáo dục đại học và sau đại học theo hướng hiện đại, phù hợp với từng ngành, nhóm ngành đào tạo và việc phân tầng của hệ thống giáo dục đại học. Chú trọng phát triển năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, đạo đức nghề nghiệp và hiểu biết xã hội, từng bước tiếp cận trình độ khoa học và công nghệ tiên tiến của thế giới.
     
    3- Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan  
   
  Việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo cần từng bước theo các tiêu chí tiên tiến được xã hội và cộng đồng giáo dục thế giới tin cậy và công nhận. Phối hợp sử dụng kết quả đánh giá trong quá trình học với đánh giá cuối kỳ, cuối năm học đánh giá của người dạy với tự đánh giá của người học đánh giá của nhà trường với đánh giá của gia đình và của xã hội.
      
  Đổi mới phương thức thi và công nhận tốt nghiệp trung học phổ thông theo hướng giảm áp lực và tốn kém cho xã hội mà vẫn bảo đảm độ tin cậy, trung thực, đánh giá đúng năng lực học sinh, làm cơ sở cho việc tuyển sinh giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học.
       
  Đổi mới phương thức đánh giá và công nhận tốt nghiệp giáo dục nghề nghiệp trên cơ sở kiến thức, năng lực thực hành, ý thức kỷ luật và đạo đức nghề nghiệp. Có cơ chế để tổ chức và cá nhân sử dụng lao động tham gia vào việc đánh giá chất lượng của cơ sở đào tạo.
      
  Đổi mới phương thức tuyển sinh đại học, cao đẳng theo hướng kết hợp sử dụng kết quả học tập ở phổ thông và yêu cầu của ngành đào tạo. Đánh giá kết quả đào tạo đại học theo hướng chú trọng năng lực phân tích, sáng tạo, tự cập nhật, đổi mới kiến thức đạo đức nghề nghiệp năng lực nghiên cứu và ứng dụng khoa học và công nghệ năng lực thực hành, năng lực tổ chức và thích nghi với môi trường làm việc. Giao quyền tự chủ tuyển sinh cho các cơ sở giáo dục đại học.
    
    Thực hiện đánh giá chất lượng giáo dục, đào tạo ở cấp độ quốc gia, địa phương, từng cơ sở giáo dục, đào tạo và đánh giá theo chương trình của quốc tế để làm căn cứ đề xuất chính sách, giải pháp cải thiện chất lượng giáo dục, đào tạo.
    
   Hoàn thiện hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục. Định kỳ kiểm định chất lượng các cơ sở giáo dục, đào tạo và các chương trình đào tạo công khai kết quả kiểm định. Chú trọng kiểm tra, đánh giá, kiểm soát chất lượng giáo dục và đào tạo đối với các cơ sở ngoài công lập, các cơ sở có yếu tố nước ngoài. Xây dựng phương thức kiểm tra, đánh giá phù hợp với các loại hình giáo dục cộng đồng.
    
   Đổi mới cách tuyển dụng, sử dụng lao động đã qua đào tạo theo hướng chú trọng năng lực, chất lượng, hiệu quả công việc thực tế, không quá nặng về bằng cấp, trước hết là trong các cơ quan thuộc hệ thống chính trị. Coi sự chấp nhận của thị trường lao động đối với người học là tiêu chí quan trọng để đánh giá uy tín, chất lượng của cơ sở giáo dục đại học, nghề nghiệp và là căn cứ để định hướng phát triển các cơ sở giáo dục, đào tạo và ngành nghề đào tạo.
      
    4- Hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập 
     
  Trước mắt, ổn định hệ thống giáo dục phổ thông như hiện nay. Đẩy mạnh phân luồng sau trung học cơ sở định hướng nghề nghiệp ở trung học phổ thông. Tiếp tục nghiên cứu đổi mới hệ thống giáo dục phổ thông phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước và xu thế phát triển giáo dục của thế giới.
   
  Quy hoạch lại mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển nguồn nhân lực. Thống nhất tên gọi các trình độ đào tạo, chuẩn đầu ra. Đẩy mạnh giáo dục nghề nghiệp sau trung học phổ thông, liên thông giữa giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học. Tiếp tục sắp xếp, điều chỉnh mạng lưới các trường đại học, cao đẳng và các viện nghiên cứu theo hướng gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học. Thực hiện phân tầng cơ sở giáo dục đại học theo định hướng nghiên cứu và ứng dụng, thực hành. Hoàn thiện mô hình đại học quốc gia, đại học vùng củng cố và phát triển một số cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao đạt trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới.
   
  Khuyến khích xã hội hóa để đầu tư xây dựng và phát triển các trường chất lượng cao ở tất cả các cấp học và trình độ đào tạo. Tăng tỉ lệ trường ngoài công lập đối với giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học. Hướng tới có loại hình cơ sở giáo dục do cộng đồng đầu tư.
   
  Đa dạng hóa các phương thức đào tạo. Thực hiện đào tạo theo tín chỉ. Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng năng lực, kỹ năng nghề tại cơ sở sản xuất, kinh doanh. Có cơ chế để tổ chức, cá nhân người sử dụng lao động tham gia xây dựng, điều chỉnh, thực hiện chương trình đào tạo và đánh giá năng lực người học.
   
  5- Đổi mới căn bản công tác quản lý giáo dục, đào tạo, bảo đảm dân chủ, thống nhất tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục, đào tạo coi trọng quản lý chất lượng
   
  Xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục, đào tạo và trách nhiệm quản lý theo ngành, lãnh thổ của các bộ, ngành, địa phương. Phân định công tác quản lý nhà nước với quản trị của cơ sở giáo dục và đào tạo. Đẩy mạnh phân cấp, nâng cao trách nhiệm, tạo động lực và tính chủ động, sáng tạo của các cơ sở giáo dục, đào tạo.
   
  Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, nhất là về chương trình, nội dung và chất lượng giáo dục và đào tạo đối với các cơ sở giáo dục, đào tạo của nước ngoài tại Việt Nam. Phát huy vai trò của công nghệ thông tin và các thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại trong quản lý nhà nước về giáo dục, đào tạo.
   
  Các cơ quan quản lý giáo dục, đào tạo địa phương tham gia quyết định về quản lý nhân sự, tài chính cùng với quản lý thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục nghề nghiệp.
   
  Chuẩn hóa các điều kiện bảo đảm chất lượng và quản lý quá trình đào tạo chú trọng quản lý chất lượng đầu ra. Xây dựng hệ thống kiểm định độc lập về chất lượng giáo dục, đào tạo.
   
  Đổi mới cơ chế tiếp nhận và xử lý thông tin trong quản lý giáo dục, đào tạo. Thực hiện cơ chế người học tham gia đánh giá hoạt động giáo dục, đào tạo nhà giáo tham gia đánh giá cán bộ quản lý cơ sở giáo dục, đào tạo tham gia đánh giá cơ quan quản lý nhà nước.
   
  Hoàn thiện cơ chế quản lý cơ sở giáo dục, đào tạo có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam quản lý học sinh, sinh viên Việt Nam đi học nước ngoài bằng nguồn ngân sách nhà nước và theo hiệp định nhà nước.
   
  Giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các cơ sở giáo dục, đào tạo phát huy vai trò của hội đồng trường. Thực hiện giám sát của các chủ thể trong nhà trường và xã hội tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra của cơ quan quản lý các cấp bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch.
    
    6- Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo
    
   Xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng và hội nhập quốc tế. Thực hiện chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo theo từng cấp học và trình độ đào tạo. Tiến tới tất cả các giáo viên tiểu học, trung học cơ sở, giáo viên, giảng viên các cơ sở giáo dục nghề nghiệp phải có trình độ từ đại học trở lên, có năng lực sư phạm. Giảng viên cao đẳng, đại học có trình độ từ thạc sĩ trở lên và phải được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm. Cán bộ quản lý giáo dục các cấp phải qua đào tạo về nghiệp vụ quản lý.
     
 Phát triển hệ thống trường sư phạm đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục ưu tiên đầu tư xây dựng một số trường sư phạm, trường sư phạm kỹ thuật trọng điểm khắc phục tình trạng phân tán trong hệ thống các cơ sở đào tạo nhà giáo. Có cơ chế tuyển sinh và cử tuyển riêng để tuyển chọn được những người có phẩm chất, năng lực phù hợp vào ngành sư phạm.
  
 Đổi mới mạnh mẽ mục tiêu, nội dung, phương pháp đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của nhà giáo theo yêu cầu nâng cao chất lượng, trách nhiệm, đạo đức và năng lực nghề nghiệp.
   
 Có chế độ ưu đãi đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Việc tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ, tôn vinh nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục phải trên cơ sở đánh giá năng lực, đạo đức nghề nghiệp và hiệu quả công tác. Có chế độ ưu đãi và quy định tuổi nghỉ hưu hợp lý đối với nhà giáo có trình độ cao có cơ chế miễn nhiệm, bố trí công việc khác hoặc kiên quyết đưa ra khỏi ngành đối với những người không đủ phẩm chất, năng lực, không đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Lương của nhà giáo được ưu tiên xếp cao nhất trong hệ thống thang bậc lương hành chính sự nghiệp và có thêm phụ cấp tùy theo tính chất công việc, theo vùng.
   
Khuyến khích đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Có chính sách hỗ trợ giảng viên trẻ về chỗ ở, học tập và nghiên cứu khoa học. Bảo đảm bình đẳng giữa nhà giáo trường công lập và nhà giáo trường ngoài công lập về tôn vinh và cơ hội đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ... Tạo điều kiện để chuyên gia quốc tế và người Việt Nam ở nước ngoài tham gia giảng dạy và nghiên cứu ở các cơ sở giáo dục, đào tạo trong nước.
   
Triển khai các giải pháp, mô hình liên thông, liên kết giữa các cơ sở đào tạo, nhất là các trường đại học với các tổ chức khoa học và công nghệ, đặc biệt là các viện nghiên cứu
.  
    7- Đổi mới chính sách, cơ chế tài chính, huy động sự tham gia đóng góp của toàn xã hội nâng cao hiệu quả đầu tư để phát triển giáo dục và đào tạo
   
   Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo, ngân sách nhà nước chi cho giáo dục và đào tạo tối thiểu ở mức 20% tổng chi ngân sách chú trọng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngân sách. Từng bước bảo đảm đủ kinh phí hoạt động chuyên môn cho các cơ sở giáo dục, đào tạo công lập. Hoàn thiện chính sách học phí.
   
  Đối với giáo dục mầm non và phổ thông, Nhà nước ưu tiên tập trung đầu tư xây dựng, phát triển các cơ sở giáo dục công lập và có cơ chế hỗ trợ để bảo đảm từng bước hoàn thành mục tiêu phổ cập theo luật định. Khuyến khích phát triển các loại hình trường ngoài công lập đáp ứng nhu cầu xã hội về giáo dục chất lượng cao ở khu vực đô thị.
   
  Đối với giáo dục đại học và đào tạo nghề nghiệp, Nhà nước tập trung đầu tư xây dựng một số trường đại học, ngành đào tạo trọng điểm, trường đại học sư phạm. Thực hiện cơ chế đặt hàng trên cơ sở hệ thống định mức kinh tế - kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng của một số loại hình dịch vụ đào tạo (không phân biệt loại hình cơ sở đào tạo), bảo đảm chi trả tương ứng với chất lượng, phù hợp với ngành nghề và trình độ đào tạo. Minh bạch hóa các hoạt động liên danh, liên kết đào tạo, sử dụng nguồn lực công bảo đảm sự hài hòa giữa các lợi ích với tích lũy tái đầu tư.
    
  Đẩy mạnh xã hội hóa, trước hết đối với giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học khuyến khích liên kết với các cơ sở đào tạo nước ngoài có uy tín. Có chính sách khuyến khích cạnh tranh lành mạnh trong giáo dục và đào tạo trên cơ sở bảo đảm quyền lợi của người học, người sử dụng lao động và cơ sở giáo dục, đào tạo. Đối với các ngành đào tạo có khả năng xã hội hóa cao, ngân sách nhà nước chỉ hỗ trợ các đối tượng chính sách, đồng bào dân tộc thiểu số và khuyến khích tài năng. Tiến tới bình đẳng về quyền được nhận hỗ trợ của Nhà nước đối với người học ở trường công lập và trường ngoài công lập. Tiếp tục hoàn thiện chính sách hỗ trợ đối với các đối tượng chính sách, đồng bào dân tộc thiểu số và cơ chế tín dụng cho học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được vay để học. Khuyến khích hình thành các quỹ học bổng, khuyến học, khuyến tài, giúp học sinh, sinh viên nghèo học giỏi. Tôn vinh, khen thưởng xứng đáng các cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc và đóng góp nổi bật cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo.
   
  Khuyến khích các doanh nghiệp, cá nhân sử dụng lao động tham gia hỗ trợ hoạt động đào tạo. Xây dựng cơ chế, chính sách tài chính phù hợp đối với các loại hình trường. Có cơ chế ưu đãi tín dụng cho các cơ sở giáo dục, đào tạo. Thực hiện định kỳ kiểm toán các cơ sở giáo dục - đào tạo.
   
  Tiếp tục thực hiện mục tiêu kiên cố hóa trường, lớp học có chính sách hỗ trợ để có mặt bằng xây dựng trường. Từng bước hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật, đặc biệt là hạ tầng công nghệ thông tin. Bảo đảm đến năm 2020 số học sinh mỗi lớp không vượt quá quy định của từng cấp học.
   
  Phân định rõ ngân sách chi cho giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học với ngân sách chi cho cơ sở đào tạo, bồi dưỡng thuộc hệ thống chính trị và các lực lượng vũ trang. Giám sát chặt chẽ, công khai, minh bạch việc sử dụng kinh phí.
   
   8- Nâng cao chất lượng,hiệu quả nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ, đặc biệt là khoa học giáo dục và khoa học quản lý 
   
   Quan tâm nghiên cứu khoa học giáo dục và khoa học quản lý, tập trung đầu tư nâng cao năng lực, chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan nghiên cứu khoa học giáo dục quốc gia. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nghiên cứu và chuyên gia giáo dục. Triển khai chương trình nghiên cứu quốc gia về khoa học giáo dục.
   
  Tăng cường năng lực, nâng cao chất lượng và hiệu quả nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ của các cơ sở giáo dục đại học. Gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo và nghiên cứu, giữa các cơ sở đào tạo với các cơ sở sản xuất, kinh doanh. Ưu tiên đầu tư phát triển khoa học cơ bản, khoa học mũi nhọn, phòng thí nghiệm trọng điểm, phòng thí nghiệm chuyên ngành, trung tâm công nghệ cao, cơ sở sản xuất thử nghiệm hiện đại trong một số cơ sở giáo dục đại học. Có chính sách khuyến khích học sinh, sinh viên nghiên cứu khoa học.
   
  Khuyến khích thành lập viện, trung tâm nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, doanh nghiệp khoa học và công nghệ, hỗ trợ đăng ký và khai thác sáng chế, phát minh trong các cơ sở đào tạo. Hoàn thiện cơ chế đặt hàng và giao kinh phí sự nghiệp khoa học và công nghệ cho các cơ sở giáo dục đại học. Nghiên cứu sáp nhập một số tổ chức nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ với các trường đại học công lập.
   
  Ưu tiên nguồn lực, tập trung đầu tư và có cơ chế đặc biệt để phát triển một số trường đại học nghiên cứu đa ngành, đa lĩnh vực sớm đạt trình độ khu vực và quốc tế, đủ năng lực hợp tác và cạnh tranh với các cơ sở đào tạo và nghiên cứu hàng đầu thế giới.
     
    9- Chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế    trong giáo dục, đào tạo 
    
 Chủ động hội nhập quốc tế về giáo dục, đào tạo trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa và thành tựu khoa học, công nghệ của nhân loại. Hoàn thiện cơ chế hợp tác song phương và đa phương, thực hiện các cam kết quốc tế về giáo dục, đào tạo.
  
 Tăng quy mô đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước đối với giảng viên các ngành khoa học cơ bản và khoa học mũi nhọn, đặc thù. Khuyến khích việc học tập và nghiên cứu ở nước ngoài bằng các nguồn kinh phí ngoài ngân sách nhà nước. Mở rộng liên kết đào tạo với những cơ sở đào tạo nước ngoài có uy tín, chủ yếu trong giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp đồng thời quản lý chặt chẽ chất lượng đào tạo.
  
 Có cơ chế khuyến khích các tổ chức quốc tế, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam ở nước ngoài tham gia hoạt động đào tạo, nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học và công nghệ ở Việt Nam. Tăng cường giao lưu văn hóa và học thuật quốc tế.
  
 Có chính sách hỗ trợ, quản lý việc học tập và rèn luyện của học sinh, sinh viên Việt Nam đang học ở nước ngoài và tại các cơ sở giáo dục, đào tạo có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam.
  
  C- TỔ CHỨC THỰC HIỆN 
  
  1-  Các cấp ủy, tổ chức đảng, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tổ chức việc học tập, quán triệt tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động thực hiện Nghị quyết này. Lãnh đạo kiện toàn bộ máy tham mưu và bộ máy quản lý giáo dục và đào tạo thường xuyên kiểm tra việc thực hiện, đặc biệt là kiểm tra công tác chính trị, tư tưởng và việc xây dựng nền nếp, kỷ cương trong các trường học, phát hiện và giải quyết dứt điểm các biểu hiện tiêu cực trong giáo dục và đào tạo.
    
  2-  Đảng đoàn Quốc hội lãnh đạo việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện, ban hành mới hệ thống pháp luật về giáo dục và đào tạo, các luật, nghị quyết của Quốc hội, tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện Nghị quyết và giám sát việc thực hiện.
  
  3-  Ban cán sự đảng Chính phủ lãnh đạo việc sửa đổi, bổ sung và ban hành mới các văn bản dưới luật xây dựng kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết. Thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện và kịp thời điều chỉnh kế hoạch, giải pháp cụ thể phù hợp với yêu cầu thực tế, bảo đảm thực hiện có hiệu quả Nghị quyết.
  
 Thành lập Ủy ban quốc gia Đổi mới giáo dục và đào tạo do Thủ tướng Chính phủ làm Chủ tịch ủy ban.
  
  4-  Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp với các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy trực thuộc Trung ương thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết và định kỳ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư kết quả thực hiện Nghị quyết.

 

Họp Ban Chỉ đạo TW về phòng, chống tham nhũng

Thực hiện Chương trình và Quy chế làm việc của Ban Chỉ đạo Trung Trung ương về phòng, chống tham nhũng, ngày 15/11, tại Hà Nội, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng đã chủ trì cuộc họp Thường trực Ban Chỉ đạo.
Tham dự có các Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Lê Hồng Anh; Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Ngô Văn Dụ; Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc; Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng Ban Nội chính Trung ương Nguyễn Bá Thanh và đại diện lãnh đạo Ban Nội chính Trung ương, Văn phòng Trung ương Đảng, Văn phòng Tổng Bí thư.

Đồng chí Nguyễn Bá Thanh trình bày Báo cáo tổng hợp kết quả kiểm tra, giám sát việc thanh tra vụ việc, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp; Báo cáo đề xuất bổ sung một số vụ án, vụ việc tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp vào diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo; Báo cáo tiến độ thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử và những khó khăn, vướng mắc trong quá trình xử lý 8 vụ án, 2 vụ việc tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp do Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo.

Sau khi nghe các thành viên Thường trực Ban Chỉ đạo phát biểu ý kiến, thay mặt Thường trực Ban Chỉ đạo, Tổng Bí thư, Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Ban Chỉ đạo phát biểu kết luận cuộc họp.

Tổng Bí thư nhấn mạnh việc tổ chức 7 đoàn kiểm tra, giám sát của Ban Chỉ đạo là chủ trương đúng đắn, kịp thời, có tác dụng tốt; các cấp ủy, tổ chức đảng được kiểm tra, giám sát nhận thức rõ hơn trách nhiệm của mình, 70 cơ quan, đơn vị chức năng được kiểm tra, giám sát thấy được ưu điểm, hạn chế, ý thức rõ hơn về trách nhiệm của mình trong công tác thanh tra, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ việc, vụ án tham nhũng.

Những kết quả này đã góp phần tạo chuyển biến tích cực trong công tác phòng, chống tham nhũng theo Nghị quyết Trung ương 3 khóa X và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về xây dựng Đảng.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ 7 đoàn công tác đã kiểm tra, giám sát, việc thanh tra, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử nhiều vụ việc, vụ án tham nhũng, án kinh tế có dấu hiệu tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp, qua đó góp phần đẩy nhanh tiến độ xử lý, đưa ra xét xử một số vụ án trọng điểm; các đoàn cũng kiến nghị đưa thêm vào diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo một số vụ việc, vụ án; đưa vào diện Ban Nội chính Trung ương - Cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo theo dõi, đôn đốc một số vụ việc, vụ án; kiến nghị các ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thành ủy trực thuộc Trung ương tập trung chỉ đạo xử lý nhiều vụ việc, vụ án...

Thường trực Ban Chỉ đạo đã góp nhiều ý kiến quan trọng để tiếp tục hoàn chỉnh các báo cáo trình Ban Chỉ đạo xem xét, quyết định trong phiên họp tới.

Về việc thực hiện kết luận tại phiên họp thứ 3 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng đối với 8 vụ án, 2 vụ việc, Tổng Bí thư đề nghị Ban Nội chính Trung ương tiếp tục theo dõi, đôn đốc các cơ quan chức năng đẩy nhanh tiến độ điều tra, truy tố và đưa ra xét xử.

Tổng Bí thư đề nghị các thành viên Thường trực Ban Chỉ đạo, cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo, căn cứ chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực công tác của mình, tiếp tục chỉ đạo, phối hợp, kiểm tra, đôn đốc và tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong công tác thanh tra vụ việc, phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm.

Thường trực Ban Chỉ đạo cũng đã cho ý kiến giải quyết một số công việc khác theo chương trình và quy chế làm việc của Ban Chỉ đạo; giao Ban Nội chính Trung ương chuẩn bị thật tốt các báo cáo phục vụ cho phiên họp tới của Ban Chỉ đạo./.

Theo TTXVN

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về tài nguyên - môi trường trong tình hình mới

Cùng với tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, tình trạng suy thoái, cạn kiệt tài nguyên và ô nhiễm môi trường đã và đang diễn ra phức tạp, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển bền vững của đất nước. Công tác quy hoạch, khai thác, sử dụng và bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên như khoáng sản, đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên biển còn thiếu hợp lý và chưa hiệu quả; biến đổi khí hậu, các hiện tượng khí tượng thuỷ văn cực đoan và ô nhiễm môi trường đang có xu hướng gia tăng cả về tần suất và cường độ, gây ra những tác động khôn lường.

Nhận thức được tầm quan trọng của tài nguyên và môi trường, xác định đây là cơ sở, tiền đề cho hoạch định đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã dành sự quan tâm đặc biệt cho công tác quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, nhằm giải quyết kịp thời, hài hoà và mang tính hệ thống cao các vấn đề nêu trên.

Cùng với quá trình CNH - HĐH, các chủ trương, chính sách về tài nguyên và bảo vệ môi trường đã thường xuyên được Đảng và Nhà nước ta chú trọng đổi mới, bổ sung và hoàn thiện, thông qua Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI, các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư để định hướng lãnh đạo, chỉ đạo và các vấn đề trong chính sách, pháp luật đất đai, chiến lược biển, khoáng sản và bảo vệ môi trường trong thời gian qua. Hiện thực hoá chủ trương, quan điểm, mục tiêu, giải pháp của Đảng, các cấp, các ngành đã đẩy mạnh hoạt động quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khó hậu và đạt được những kết quả bước đầu.

Nhằm đưa các nghị quyết, chỉ thị của Đảng đi vào cuộc sống, triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách về quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường một cách hiệu quả và thiết thực, công tác thông tin, tuyên truyền, hướng dẫn đóng vai trò rất quan trọng để nâng cao nhận thức của các cấp uỷ đảng, chính quyền, cán bộ, đảng viên và tất cả các tầng lớp nhân dân, tăng cường sự phối hợp của cả hệ thống chính trị, tạo sự đồng thuận trong xã hội, giải quyết thoả đáng các vấn đề bức xúc của nhân dân trong lĩnh vực quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Được trao trách nhiệm đi đầu trong công tác này là đội ngũ cán bộ ngành Tuyên giáo cùng với ngành Tài nguyên và Môi trường.

Ngày 27/4/2009, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá X) đã ban hành Quyết định 221-QĐ/TW về "Quy chế phối hợp giữa Ban Tuyên giáo các cấp với cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp trong việc triển khai kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết các vấn đề bức xúc của nhân dân". Thực hiện Quyết định này, hằng năm, Ban Tuyên giáo Trung ương và Bộ Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp, xác định các nhiệm vụ trọng tâm để tăng cường phối hợp công tác trong nghiên cứu, đề xuất, tham mưu cũng như chỉ đạo, tuyên truyền, hướng dẫn, kiểm tra việc triển khai các nghị quyết, chỉ thị, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về lĩnh vực tài nguyên - môi trường.

Trong những năm vừa qua, Lãnh đạo Ban Tuyên giáo Trung ương và Lãnh đạo Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức nhiều cuộc trao đổi, thảo luận và triển khai các kế hoạch, nội dung phối hợp công tác phục vụ xây dựng chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; tuyên truyền nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân về lĩnh vực tài nguyên - môi trường và đạt được một số kết quả chính như sau:

Một là, phối hợp tổ chức các hội nghị toàn quốc, hội nghị vùng, miền, hội thảo, toạ đàm quán triệt, tuyên truyền thực hiện các quan điểm của Đảng về công tác bảo vệ môi trường và các lĩnh vực của ngành theo tinh thần Nghị quyết 41-NQ/TW của Bộ Chính trị và Chỉ thị 29-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng.

Hai là, phối hợp với các bộ, ngành, tình, thành uỷ xây dựng và tuyên truyền phổ biến tài liệu "Sổ tay cán bộ tuyên giáo bảo vệ môi trường" và các tài liệu thông tin thời sự về tình hình biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường nhằm cung cấp những khái niệm, kiến thức cơ bản về lĩnh vực tài nguyên - môi trường, nâng cao nhận thức, hỗ trợ hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ đảng, chính quyền và ngành Tuyên giáo trong lĩnh vực tài nguyên - môi trường.

Ba là, tổ chức các lớp tập huấn cho các địa phương về công tác bảo vệ môi trường, kiểm tra giám sát những vi phạm trong bảo vệ môi trường, quản lý tài nguyên. Thành phần tham dự gồm cán bộ tuyên giáo từ cấp tỉnh đến cấp xã, phường, thị trấn, các tổ chức chính trị - xã hội, nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Bốn là, phối hợp xây dựng các đề án về "tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai" và "chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, đẩy mạnh công tác bảo vệ tài nguyên và môi trường", phục vụ cho việc ban hành Nghị quyết số 19-NQ/TW Hội nghị lần thứ sáu và Nghị quyết 24-NQ/TW Hội nghị lần thứ bảy, Ban Chấp hành Trung ương khoá XI, bao gồm các công tác: 1 - Phối hợp tổ chức và triển khai hoạt động của Ban Chỉ đạo, Tổ Biên tập phục vụ xây dựng các văn bản dự thảo của các đề án nói trên (Báo cáo Đề án, Tờ trình và Dự thảo Nghị quyết). 2 - Xây dựng đề cương, kế hoạch thực hiện, yêu cầu và hướng dẫn các ban, bộ, ngành, tỉnh uỷ, thành uỷ báo cáo về đánh giá tình hình thực hiện chủ trương của Đảng, đề xuất phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp trong giai đoạn mới. 3 - Tổ chức khảo sát thực tế tại các địa phương; tổ chức các hội thảo, toạ đàm khoa học, các buổi làm việc trực tiếp để xin ý kiến các đồng chí Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các đồng chí nguyên là Lãnh đạo của Ban Tuyên giáo Trung ương và Bộ Tài nguyên và Môi trường qua các thời kỳ, các chuyên gia, nhà khoa học.

Năm là, thực hiện đề án tuyên truyền biển, đảo hàng năm nhằm nâng cao nhận thức về vai trò, trách nhiệm của các cấp uỷ đảng, chính quyền, cán bộ, đảng viên, đội ngũ trí thức và các tầng lớp nhân dân trong việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo của đất nước.

Sáu là, phối hợp công tác tập huấn, cung cấp thông tin cho đội ngũ báo cáo viên toàn quốc về chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước phục vụ việc tuyên truyền nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên, các tầng lớn nhân dân về lĩnh vực tài nguyên - môi trường.

Bảy là, tổ chức tập huấn toàn quốc cho đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên giáo, khoa học, công nghệ, tài nguyên, môi trường của các địa phương và ở Trung ương, các tổ chức chính trị - xã hội về biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.

Các hoạt động phối hợp công tác giữa Ban Tuyên giáo Trung ương và Bộ Tài nguyên và Môi trường thời gian qua đã góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả công tác tham mưu, đề xuất xây dựng và hoàn thiện chủ trương, cơ chế, chính sách về tài nguyên - môi trường; tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng về việc khai thức, sử dụng, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường; nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng, tạo sự nhất trí trong nhận thức và hành động của toàn Đảng, toàn dân đối với việc triển khai thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng trong lĩnh vực tài nguyên - môi trường.

Trước yêu cầu của tình hình mới, công tác phối hợp giữa Ban Tuyên giáo Trung ương và Bộ Tài nguyên và Môi trường trong thời gian tới tiếp tục được tăng cường và đẩy mạnh hơn nữa, nhằm đáp ứng việc tuyên truyền, phổ biến, quán triệt cho các cấp uỷ đảng, chính quyền và các tầng lớp nhân dân về các chủ trương, chính sách mới của Đảng và Nhà nước về quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu; tổ chức thực hiện việc nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn; phát hiện và giải quyết kịp thời những vấn đề nhạy cảm, bức xúc, phản biện xã hội, các xung đột lợi ích trong quản lý, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường; tổ chức khen thưởng, biểu dương, tuyên truyền nhân rộng tập thể, cá nhân có thành tích tiêu biểu trong thực hiện các nhiệm vụ chính trị về quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường./.

 
TG

‘Giải tán’ tập đoàn: Tàn giấc mơ còn lại cục nợ

Thua lỗ, nợ nần, sai phạm, khởi tố... sau những tai tiếng ấy, Tập đoàn đổi tên, chuyển mô hình. Các tập đoàn được thành lập với kỳ vọng trở thành những ‘quả đấm thép’, trụ cột của nền kinh tế để cạnh tranh và vươn lên tầm quốc tế.

Nhưng khi giấc mơ chưa thành thì đã có những mô hình tập đoàn phải sớm chấm dứt và để lại một cục nợ lớn.
Trong gần một năm qua, đã có ba mô hình tập đoàn chính thức được dừng thí điểm.

Ngày 12/10/2012, Tập đoàn Công nghiệp xây dựng VNIC (nòng cốt là Tổng công ty Sông Đà) và Tập đoàn đầu tư và phát triển nhà đô thị HUD đã bị giáng cấp. Những “anh” nòng cốt trở về nguyên trạng là Tổng công ty HUD và Tổng công ty Sông Đà. Hàng trăm “anh” khác thì về mái nhà cũ Bộ Xây dựng.

Tuổi thọ của 2 Tập đoàn này được 2 năm.


Gần một năm sau, ngày 21/10/2013, Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy - Vinashin cũng chính thức mất áo “Tập đoàn” trở về Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy, nhưng với tên giao dịch quốc tế hoàn toàn mới- SBIC.

Cái tên Vinashin với tuổi thọ 7 năm.

Nhìn lại những sự kiện này, nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, việc chấm dứt có vẻ như nhanh gọn quá. Người ta cũng chưa thấy có tổng kết, đánh giá được công bố một cách công khai… chỉ thấy ầm ĩ những khoản nợ, lỗ và hàng loạt sai phạm đang được xử lý.

Nhớ thời vàng son mới thành lập, những cái tên tập đoàn đều long lanh ngời sáng. Nhắc đến xây dựng, bất động sản là nhắc đến HUD, Sông Đà; nói đên đóng tàu chỉ có Vinashin… như những biểu tượng mới cho nền kinh tế.

Ngày ra mắt, lãnh đạo của VNIC chia sẻ: “VNIC từng bước xây dựng, tiến tới hoàn thiện để trở thành tập đoàn công nghiệp xây dựng hùng mạnh của quốc gia và khu vực, đủ năng lực cạnh tranh với các tập đoàn nước ngoài”.

Năm 2010, trước lời tố “đóng tàu lấn sân sang làm thép chỉ là thùng rỗng kêu to của Hiệp hội Thép Việt Nam, ông Phạm Thanh Bình, khi đó là Chủ tịch Vinashin “tâm sự” rằng: “Đầu tư có lúc được, lúc mất vì nhiều lý do. Nhưng chắc chắn, cố gắng của chúng tôi là rất lớn.Tôi chỉ muốn làm được điều gì cho đất nước, cho ngành công nghiệp của mình, nhưng làm gì cũng bị cho là đầu tư tràn lan, không tính toán. Quả là hơi oan quá. Nhưng mà thôi, thực tế sẽ trả lời chứ tôi chẳng muốn thanh minh”.

Và thực tế đã có câu trả lời cuối cùng.

Khi tiến lên Tập đoàn, những ông lớn này lại thụt lùi về lợi nhuân. Nếu năm 2009, khi chưa tham gia Tập đoàn thì Tổng công ty Sông Đà có tỷ suất lợi nhuận/vốn sở hữu đạt 9,72%, đến 2011 chỉ còn đạt 0,75%. Công ty mẹ Tổng công ty HUD cũng từng đạt tỷ suất lợi nhuận tới 15,96% năm 2009 - trước khi thành Tập đoàn, tới năm 2011 giảm chỉ còn 4,94%.

Đầu năm 2012, Thanh tra Chính phủ đã phát sai phạm ở Tập đoàn Sông Đà lên tới 10.700 tỷ đồng. Với HUD, những sai phạm, tai tiếng gắn với nhiều dự án bất động sản cũng liên tục lộ ra.

Thậm chí, đến 6/2012, Bộ Xây dựng còn phải xin Bộ Tài chính ứng cứu cho Tập đoàn Sông Đà tới 437 tỷ đồng để trả nợ năm 2012 cho công ty cổ phần xi măng Hạ Long – dự án Tổng công ty Sông Đà đứng tên vay vốn dưới sự bảo lãnh của Chính phủ.

Tháng 5 vừa qua, HUD khi đã trở về là Tổng công ty vẫn còn đang loay hoay trong đống nợ khủng của Công ty Xi măng Sông Thao nơi HUD chiếm 81% vốn. Và như các Tập đoàn khác, HUD lại cầu cứu Bộ Tài chính trả nợ thay cho 3 kỳ trả nợ tiền gốc và lãi tới 1.9 triệu EUR và 2.9 triệu USD...

Với Vinashin, có lẽ, bất cứ ai cũng thuộc những con số tiêu biểu của Tập đoàn này như nợ hơn 86.000 tỷ đồng, lỗ hàng ngàn tỷ đồng.. Hay mua tàu Hoa sen cũ rích lạc hậu cả nghìn tỷ đồng để rồi bỏ không… rồi cả một đội tàu hùng hậu một thời nay tan tác. Cựu chủ tịch Tập đoàn này này đang phải chấp hành án 20 năm tù vì những sai lầm tỷ đô của mình còn việc tái cơ cấu ở tập đoàn này hiện vẫn còn rất chật vật.

Một thời, đi làm ăn kinh doanh mà xưng danh hai chữ “Tập đoàn”, nghe oách lắm. Ngành ngành ‘sính” Tập đoàn, như thể nhà nhà ‘sính” đồ ngoại, người người sính đồ hiệu. Rõ ràng, Tập đoàn hẳn phải to hơn công ty, Tổng công ty. Kéo theo, “Tập đoàn” cũng phải ‘to’ hơn về tài chính, về kinh nghiệm, về năng lực, về quản trị, về quan hệ… và vì thế Tập đoàn cũng có được nhiều quyền lợi và ưu đãi hơn.

Nhưng mở màn hoành tráng, kết thúc lặng lẽ gắn với 2 chữ ‘Tập đoàn’. Những cái kết buồn cho câu chuyện “Tập đoàn” này có thể chỉ là trang mở đầu cho một công cuộc tái cơ cấu các DN nhà nước, trong đó có cả những Tâp đoàn, Tổng công ty… làm ăn không hiệu quả.

Có điều, liệu thay tên đổi họ rồi, những ông lớn này có “làm mới mình” hơn không hay là vẫn đang còn loay hoay với những vấn đề cũ?. Nhưng có một điều chắc chắn, để xử lý hết những khoản nợ và khó khăn tồn tại, không chỉ các DN này mà các cơ quan quản lý hẳn sẽ còn mất nhiều thời gian và nguồn lực. Đơn giản những con số ngàn tỷ nợ và lỗ không dễ gì sớm dứt điểm được.

Phạm Huyền

Đảng Bộ khối cơ sở Bộ Xây dựng - 30 năm một chặng đường


Sáng 14/9 tại hội trường trường Đại học Kiến trúc TP.HCM, Đảng Bộ khối cơ sở Bộ Xây dựng tổ chức lễ kỷ niệm 30 thành lập (17/9/1983 - 17/9/2013) và đón nhận Huân chương Lao động hạng Ba.

Tới dự và chia vui với Đảng bộ khối có đồng chí Nguyễn Thị Thu Hà, Phó bí thư Thành ủy TP.HCM, Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Thanh Nghị, Bùi Phạm Khánh, đại diện UBND TP, các Ban Đảng ngành TP.HCM, lãnh đạo Đảng ủy Khối qua các thời kỳ, cùng đông đảo cán bộ đảng viên Đảng Bộ khối cơ sở Bộ Xây dựng tại TP.HCM.

Sau chặng đường 30 năm, đến nay Đảng bộ Khối cơ sở Bộ Xây dựng đã trở thành ngôi nhà chung của những người xây dựng ở phía Nam. Đồng chí Trương Quý Kỳ, Bí thư Đảng bộ Khối cơ sở Bộ Xây dựng nhớ lại: Từ 24 tổ chức cơ sở đảng trực thuộc, gồm 9 đảng bộ, 15 chi bộ cơ sở với 707 đảng viên đến nay Đảng bộ Khối đã có 39 tổ chức cơ sở đảng trực thuộc, 150 chi bộ, bộ phận và hơn 1.900 đảng viên.

Đảng bộ khối đã trải qua 8 kỳ đại hội, mỗi kỳ lại có những đổi mới để phù hợp với điều kiện thực tiễn trong công tác chỉ đạo điều hành ở mỗi cơ quan đơn vị.

Sau 30 năm, các thế hệ đảng viên đã trưởng thành hơn, năng động, sáng tạo, có bản lĩnh chính trị vững vàng. Sẵn sàng đối mặt với khó khăn, thách thức, dám nghĩ, dám làm. Biết phát huy nội lực để vươn lên, xây dựng cơ quan, đơn vị ngày càng phát triển.

Chia vui cùng với Đảng bộ Khối cơ sở Bộ Xây dựng, Thứ trưởng Bùi Phạm Khánh nhấn mạnh: Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Khối, tập thể các đơn vị trực thuộc và các thế hệ CBCNVC của Ngành ở phía Nam đã thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị được giao, phát triển mạnh cả về quy mô và chất lượng, cả chiều rộng lẫn chiều sâu.

Với tinh thần trách nhiệm, thời gian qua, các đơn vị trực thuộc đảng bộ khối đã đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh, làm tổng thầu nhiều công trình lớn theo phương thức BOT, BT... của quốc gia và các tỉnh, thành trong cả nước.

Tham gia quy hoạch, chỉnh trang đô thị TP.HCM và các tỉnh miền Đông, miền Tây Nam bộ.

Các công trình để lại dấu ấn của Đảng bộ khối lãnh đạo như công trình vệ sinh môi trường, thoát nước Nhiêu Lộc - Thị Nghè, cầu Thủ Thiêm, cầu Đồng Nai mới, đường Hoàng Sa Trường Sa, nhà máy thủy điện Trị An (Đồng Nai), Sok Phu Miêng (Bình Phước), Đak Rtih’ (Đắc Nông), cầu vượt bằng thép tại nút giao đường 3 tháng 2 – Nguyễn Tri Phương (TP.HCM)…

Ngoài ra, các đơn vị còn tham gia chỉnh trang đô thị, xây dựng chung cư cao tầng, nhà ở xã hội, ký túc xá cho sinh viên trên địa bàn TP.HCM, Đồng Nai, Vũng Tàu… Qua đó đã góp phần giúp cho các tỉnh thành phát triển nhanh về kinh tế - xã hội, xây dựng bộ mặt đô thị ngày càng văn minh, hiện đại.

Chúc mừng Đảng bộ khối tròn 30 tuổi, đồng chí Nguyễn Thị Thu Hà, Phó bí thư Thành ủy TP.HCM cho biết: Việc thành lập Đảng bộ khối cơ sở Bộ Xây dựng là một quyết định cần thiết và kịp thời, giúp Thành ủy trong việc quản lý các cơ sở đảng cùng ngành nghề vào một đầu mối để thống nhất lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng đạt kết quả cao.

Đồng thời tạo ra môi trường thuận lợi để các cơ sở Đảng cùng chung ngành nghề sinh hoạt, cùng triển khai các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Nhà nước gắn với thực tiễn nhiệm vụ cụ thể của mỗi đơn vị.

Các đơn vị của Đảng bộ khối đã đóng góp lớn cho TP trong phát triển hạ tầng đô thị, vật liệu xây dựng, quy hoạch, kiến trúc, đào tạo nguồn nhân lực cho ngành xây dựng…

Trong thời gian tới, đồng chí Nguyễn Thị Thu Hà đề nghị Đảng bộ khối cần quan tâm thực hiện tốt hơn nữa nhiệm vụ chính trị cũng như kế hoạch sản xuất kinh doanh xây dựng đất nước ngày càng vững mạnh. Tập trung chương trình và triển khai kế hoạch theo nghị quyết 11 của Đảng và các nghị quyết của TP, triển khai nghị quyết của Đảng về tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước đảm bảo ổn định sản xuất kinh doanh, an sinh xã hội.

Nhằm phát huy thế mạnh của Ngành, Thứ trưởng Bùi Phạm Khánh giao nhiệm vụ cho Đảng bộ khối nêu cao tinh thần đoàn kết, tiếp nối truyền thống vẻ vang của Đảng bộ, phát huy vai trò tiên phong gương mẫu, năng động sáng tạọ, lãnh đạo, chỉ đạo cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong các cơ quan, đơn vị thuộc Đảng bộ phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của Ngành Xây dựng.

Bên cạnh đó cũng giúp cho lãnh đạo Bộ Xây dựng tập trung, thống nhất lãnh đạo triển khai các chương trình, kế hoạch nhiệm vụ chính trị của Ngành do Ban Cán sự Đảng và Bộ Xây dựng đề ra.

Nhân dịp này, Đảng bộ khối cũng được Chủ tịch nước trao tặng Huân chương Lao động hạng Ba, Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen, nhiều tập thể, cá nhân trong Đảng bộ khối được UBND TP tặng huy hiệu TP.HCM và nhiều phần thưởng cao quý khác.

Cao Cường

Nguồn: baoxaydung.com.vn

TPHCM: Cán bộ cao cấp nghỉ hưu học tập, quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa XI

(Website TU) – Ngày 6/8, Thành ủy TPHCM tổ chức hội nghị học tập, quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa XI cho cán bộ cap cấp nghỉ hưu. Đây là lớp thứ 2 Thành ủy TPHCM tổ chức dành cho cán bộ TP học tập, quán triệt các nội dung quan trọng này. Đồng chí Lê Thanh Hải, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TPHCM chủ trì hội nghị.


 

Phát biểu khai mạc hội nghị, Bí thư Thành ủy TPHCM Lê Thanh Hải nhấn mạnh tầm quan trọng của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI; giới thiệu những nét cơ bản về các Kết luận, Nghị quyết của Hội nghị này với những nội dung sâu sắc nhằm giải quyết những vấn đề cấp bách trên nhiều lĩnh vực về chính trị, xã hội và xây dựng Đảng. Đồng chí chỉ rõ: Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh có trách nhiệm quán triệt, triển khai thực hiện có kết quả các Nghị quyết và Kết luận của Trung ương ban hành; xem đây là khâu mấu chốt, quyết định trong việc biến Nghị quyết, chủ trương của Đảng thành hiện thực. Điều này đòi hỏi chẳng những phải có quyết tâm cao, nỗ lực lớn, mà còn phải có phương pháp làm việc khoa học, chặt chẽ, vì cùng một lúc phải làm rất nhiều việc, mà việc nào cũng quan trọng, cấp bách. Quá trình đó rất cần đến sự góp sức, tâm huyết, trí tuệ của các đồng chí cán bộ cao cấp, tướng lĩnh nghỉ hưu trên địa bàn TP; giúp Đảng bộ thực hiện hoàn thành nhiệm vụ các Kết luận, Nghị quyết Trung ương 7 khóa XI.

Đề cập những mặt đã làm được, những yếu kém, hạn chế sau một năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” và phương hướng tiếp tục thực hiện thời gian tới, đồng chí Bí thư Thành ủy nhấn mạnh: Ban Chấp hành Trung ương yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở phải kiên quyết, kiên trì tiếp tục lãnh đạo tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết với những bước đi vững chắc để tạo được chuyển biến rõ rệt trong công tác xây dựng Đảng trong thời gian tới. Trọng tâm là tiếp tục nghiêm túc sửa chữa khuyết điểm, yếu kém; tiếp tục thực hiện và hoàn chỉnh cơ chế, chính sách; tiếp tục thực hiện các chủ trương về công tác cán bộ, công tác quy hoạch và chuẩn bị nhân sự cho Đại hội XII; tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng chống tham nhũng; tiếp tục thực hiện kiểm điểm tự phê bình và phê bình; tiếp tục làm tốt hơn nữa công tác giáo dục chính trị tư tưởng.

Các nội dung mà đại biểu được học tập học tập, quán triệt trong hội nghị lần này bao gồm: Nghị quyết về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới; Nghị quyết về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường; Kết luận một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở; Kết luận về việc tiếp thu ý kiến nhân dân, hoàn thiện bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 và Kết luận một số vấn đề cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công và định hướng cải cách đến năm 2020.

Tin: Thiên Linh, Ảnh: Long Hồ

Đẩy mạnh việc thực hiện Quy định 1043-QĐ/TU của Ban Thường vụ Thành ủy về công tác vận động quần chúng

Công tác vận động quần chúng trong giai đoạn hiện nay là một trong những nhiệm vụ quan trọng góp phần phát triển kinh tế, xã hội, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. 

Để triển khai học tập làm theo tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về phong cách quần chúng, dân chủ, nêu gương… Ngày 15/5/2013, Ban Thường vụ Đảng ủy Khối đã ban hành Kế hoạch số 690-KH/ĐUK về phân công đảng viên trực tiếp làm công tác vận động quần chúng ở cơ sở, tiếp tục thực hiện Quy định số 1043-QĐ/TU ngày 21/09/2004 của Thành ủy “Về phân công đảng viên trực tiếp làm công tác vận động quần chúng ở cơ sở”.

Nội dung trọng tâm của Kế hoạch 690-KH/ĐUK yêu cầu mỗi cấp ủy Đảng xây dựng kế hoạch, phân công đảng viên trực tiếp làm công tác vận động quần chúng cụ thể, thiết thực, phù hợp với khả năng, điều kiện của từng đảng viên để thực hiện có hiệu quả, sát với nhiệm vụ chính trị của từng đơn vị. Tất cả đảng viên phải thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác vận động quần chúng, đó là: “Trong bầu trời, không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới, không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân… Trong xã hội, không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân”. Vì vậy, “việc gì có lợi cho dân thì phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì phải hết sức tránh”. Muốn được dân yêu, muốn được lòng dân, trước hết phải yêu dân, kính dân, phải thân với dân, gần nhân dân để hiểu được nhân dân. Cùng với đó, cán bộ, đảng viên phải biết phấn đấu, hy sinh vì lợi ích của tập thể, lợi ích của nhân dân”, từ đó mỗi cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng bộ Khối phải hoàn thành 10 nội dung thực hiện công tác vận động quần chúng, trong đó lưu ý một số nội dung để ổn định đơn vị như: Vận động cán bộ công nhân viên, người lao động chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; đoàn kết cùng cơ quan, đơn vị vượt qua khó khăn thử thách hiện nayVận động cán bộ công nhân viên, người lao động chấp hành nghiêm Luật Lao động; Luật Giao thông; Luật thực hành tiết kiệm, chống lãnh phí, Luật phòng, chống tham nhũng

 

Hội nghị cán bộ chủ chốt triển khai học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
về phong cách quần chúng, dân chủ, nêu gương

Kế hoạch số 690-KH/ĐUK còn đề ra những biện pháp và thời gian cụ thể quá trình thực hiện trong năm 2013 như: Cấp ủy cơ sở căn cứ vào tình hình của đơn vị, chủ động lên danh sách dự kiến phân công đảng viên và thông qua chi bộ tại cuộc họp gần nhất để đảng viên có ý kiến, chi bộ thảo luận, biểu quyết thống nhất đưa vào Nghị quyết thực hiện trong năm. Từ ngày 3/6 – 30/11/2013, các đảng bị, chi bộ tổ chức thực hiện, từ ngày 1/12 – 30/12/2013 đánh giá kết quả thực hiện cùng với việc triển khai phân tích, đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở Đảng trong năm 2013.

 

Xuân Ngọc

 

ĐOÀN KHỐI CƠ SỞ BỘ XÂY DỰNG

Địa chỉ: Lầu 4, Số 14, Kỳ Đồng, F.9, Q.3, TP. HCM
Điện thoại: (08) 22 41 45 92 - Fax: (08) 3 5262560
Website: www.tuoitreboxaydung.vn
Visitors
4
Articles
579
Web Links
9
Articles View Hits
1389108