• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase
6

Bài phát biểu của đại diện BTV Đảng ủy Khối tại Đại hội Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Khối cơ sở Bộ Xây dựng lần thứ VII, nhiệm kỳ 2017-2022

Kính thưa các đồng chí đại biểu khách quý !

Thưa Đoàn Chủ tịch Đại hội;

Thưa toàn thể Đại hội

Đại hội lần thứ VII Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Khối cơ sở Bộ Xây dựng diễn ra đúng vào dịp kỷ niệm 32 năm Ngày thành lập Đoàn Khối (15/7/1985 – 15/7/2017), tuổi trẻ Đoàn khối cùng với cán bộ, đảng viên, người lao động trong Khối đang tổ chức nhiều hoạt động thi đua thiết thực phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ chính trị 6 tháng cuối năm và hoàn thành tốt kế hoạch cả năm 2017 theo mục tiêu phát triển chung của ngành Xây dựng và chỉ tiêu nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội do Chính phủ đã đề ra trong năm 2017, đảm bảo tăng trưởng GDP bình quân đạt 6,7 %.

Đại hội đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Khối Bộ Xây dựng lần thứ VII là sự kiện chính trị quan trọng, là ngày hội lớn của tuổi trẻ Ngành Xây dựng phía Nam. Đây là dịp để các cấp bộ Đoàn và toàn thể cán bộ, đoàn viên thanh niên tự nhìn nhận đánh giá đúng thực chất các hoạt động của mình trong suốt một nhiệm kỳ qua, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu; xác định mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ thiết thực trong nhiệm kỳ tới. Đây cũng là dịp để các cấp uỷ Đảng, lãnh đạo đơn vị, các tổ chức chính trị-xã hội và mỗi cán bộ, đảng viên của Khối nhìn nhận đánh giá lại trách nhiệm của mình đối với tuổi trẻ Đoàn khối.

 

Tôi rất vui mừng được thay mặt Ban Thường vụ Đảng ủy Khối phát biểu tại Đại hội, được trao đổi, được bày tỏ tình cảm, trách nhiệm của cấp uỷ Đảng, lãnh đạo đơn vị đối với cán bộ, đoàn viên - những người Cộng sản trẻ tuổi của Ngành. Lời đầu tiên, thay mặt Đảng uỷ Khối tôi xin gửi đến các vị khách mời và 120 đại biểu ưu tú, đại diện cho trên 3000 đoàn viên TNCS Hồ Chí Minh của Khối lời chào mừng nồng nhiệt nhất, chúc tất cả các đồng chí mạnh khoẻ, hạnh phúc. Chúc Đại hội của chúng ta thành công tốt đẹp.

Kính thưa các đồng chí đại biểu,

Thưa Đại hội,

Với trách nhiệm của mình, trong quá trình Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Khối chuẩn bị Đại hội lần thứ VII, Ban Thường vụ Đảng uỷ Khối luôn theo dõi chỉ đạo sâu sát và phân công đồng chí Nguyễn Xuân Ngọc, Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng ban Tuyên giáo phụ trách thanh niên, nguyên bí thư Đoàn Khối khóa V, khóa VI trực tiếp theo dõi, tham gia cùng với Ban Thường vụ Đoàn Khối xây dựng và hoàn chỉnh Dự thảo Báo cáo chính trị và các nội dung, chương trình chuẩn bị Đại hội. Ban Thường vụ Đảng ủy Khối đã cho ý kiến và thống nhất cao với Ban Thường vụ Thành đoàn về Đề án nhân sự BCH Đoàn Khối nhiệm kỳ VII do BCH Đoàn Khối nhiệm kỳ VI chuẩn bị.

Tại phiên buổi sáng hôm nay, Đại hội đã nghe Đoàn chủ tịch trình bày Dự thảo Báo cáo chính trị, các ý kiến tham luận của đại biểu và ý kiến phát biểu chỉ đạo của đại diện Ban thường vụ Thành đoàn đánh giá khá sát đúng tình hình thực tế về công tác Đoàn và phong trào thanh niên trong nhiệm kỳ vừa qua của Đoàn Khối Bộ Xây dựng. Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, BCH Đoàn khoá VI đã nêu lên những tồn tại, hạn chế, yếu kém trong công tác tổ chức và chất lượng hoạt động phong trào Đoàn. Trên cơ sở đó, đã rút ra những bài học kinh nghiệm, xác định rõ mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ của Đoàn trong nhiệm kỳ 2017-2020. Ban Thường vụ Đảng Khối thống nhất cao với những đánh giá và nội dung đã trình bày tại đại hội trong buổi sáng hôm nay.

Kính thưa các đồng chí đại biểu,

Thưa Đại hội,

Mặc dù còn có những hạn chế do những nguyên khách quan và chủ quan, nhưng có thể khẳng định các hoạt động của tuổi trẻ Đoàn khối trong nhiệm kỳ VI tiếp tục có sự kế thừa truyền thống suốt 32 năm qua và có những bước phát triển mới, nhất là trong vài năm trở lại đây. Nội dung các cuộc vận động, các phong trào hành động cách mạng của tuổi trẻ như “Tuổi trẻ học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, phong trào “xung kích, tình nguyện phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc” và “đồng hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp” được Ban Chấp hành Đoàn Khối cụ thể hoá bằng những việc làm thiết thực và tổ chức hiện có hiệu quả, thu hút đông đảo lực lượng trẻ tham gia. Các cuộc vận động, các phong trào trên và các hoạt động xã hội như hiến máu cứu người, xây nhà nghĩa tình xây dựng, văn hóa công trình, ACT (An toàn - Chất lượng - Tiến độ), Ngày lao động Cộng sản…  vừa có tác dụng giáo dục nhân cách đạo đức, lối sống, tinh thần yêu nước, trách nhiệm đối với xã hội của tuổi trẻ, vừa thiết thực chăm lo lợi ích chính đáng của thanh niên, vừa góp phần vào việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, vừa nâng cao vai trò vị trí của Đoàn và đã để lại những dấu ấn tốt đẹp trong đời sống xã hội.

Thông qua các cuộc vận động, các phong trào, các hoạt động thực tiễn, tổ chức Đoàn được củng cố và phát triển; công tác vận động tập hợp thanh niên có những chuyển biến tích cực; đội ngũ cán bộ đoàn trưởng thành cả về trình độ nhận thức, trình độ chuyên môn và năng lực thực tiễn. Số đoàn viên ưu tú xuất hiện ngày càng nhiều và ở mọi lĩnh vực. Trong nhiệm kỳ vừa qua đã có hàng trăm đoàn viên ưu tú được đứng vào hàng ngũ của Đảng, chiếm tỷ lệ gần 50% số đảng viên được kết nạp mỗi năm (riêng năm 2016 đạt trên 60% đảng viên mới là đoàn viên thanh niên).

Thành tích và sự tiến bộ của tuổi trẻ Đoàn khối là rất đáng tự hào, cần phải tiếp tục phát huy hơn nữa. Thay mặt Ban Thường vụ Đảng uỷ Khối, tôi nhiệt liệt biểu dương và khen ngợi những thành tích xuất sắc về công tác Đoàn và phong trào thanh niên, về sự nỗ lực vươn lên của toàn thể cán bộ, đoàn viên, thanh niên và các cấp bộ Đoàn trong nhiệm kỳ vừa qua.

***

Nhân Đại hội này, Ban Thường vụ Đảng uỷ Khối xin gửi lời cảm ơn đến Ban Thường vụ Thành đoàn và các ban phong trào Thành đoàn Tp Hồ Chí Minh đã quan tâm theo dõi, lãnh đạo, chỉ đạo, giúp đỡ có hiệu quả đối với công tác Đoàn và phong trào thanh niên của Khối trong những năm qua. Sự có mặt của các đồng chí lãnh đạo Thành đoàn tại Đại hội hôm nay càng chứng tỏ sự quan tâm của Đoàn cấp trên, là nguồn động viên rất lớn đối với Đoàn Khối BXD.

Bên cạnh những thành tích và tiến bộ đã đạt được, chúng ta cần nghiêm túc nhìn nhận những khuyết điểm và hạn chế đang tồn tại ở Khối chúng ta hiện nay. Đó là: Việc giáo dục lý tưởng cách mạng và hoài bão cho thanh niên chưa được các cấp ủy Đảng và tổ chức Đoàn quan tâm tổ chức thường xuyên. Một số cấp uỷ chi bộ chưa thực sự quan tâm đối với Đoàn thanh niên. Một số ít cán bộ, đảng viên chưa thật sự khách quan trong việc nhìn nhận, đánh giá thanh niên và vai trò của tổ chức đoàn thể; còn nặng về tính thị trường (hiệu quả trước mắt+ lợi nhuận), thiếu sự đồng cảm, chia sẻ với thanh niên. Phong trào thanh niên phát triển không đều, chỉ tập trung ở một số cơ sở Đoàn có truyền thống từ trước đến nay và trong các trường đào tạo. Chất lượng đoàn viên, thanh niên chưa cao và chưa đồng đều. Một bộ phận thanh niên chưa tự giác học tập, rèn luyện và đứng vào hàng ngũ của tổ chức đoàn, còn bị chi phối bởi cuộc sống mưu sinh hàng ngày, không có mục tiêu, lý tưởng rõ ràng và lâu dài. Ban Chấp hành Đoàn Khối chưa có nhiều giải pháp và hình thức, nội dung hoạt động phong phú để vận động tập hợp thanh niên. Trong khi đó, các thế lực thù địch đang tìm mọi cách để lôi kéo, tha hoá thanh niên, cố làm cho thế hệ thanh niên ngày nay phai nhạt lý tưởng cộng sản, quên đi quá khứ hào hùng của lớp cha anh, quên đi tinh thần tự tôn, tự cường của dân tộc. Đây là vấn đề mà các cấp uỷ Đảng, nhà nước, các tổ chức Đoàn thể và toàn xã hội cần phải hết sức và đặc biệt quan tâm.

 

Về phương hướng, nhiệm vụ trong thời gian tới, tôi xin trao đổi với đại hội một số vấn đề để các đại biểu thảo luận tìm ra giải pháp cụ thể hữu hiệu và BCH nhiệm kỳ mới tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả.

Vấn đề thứ nhất: Nâng cao chất lượng tổ chức Đoàn và phong trào thanh niên: Muốn nâng cao chất lượng tổ chức Đoàn, trước hết phải nâng cao chất lượng đoàn viên, nhất là chất lượng chính trị và tính tiên phong gương mẫu. Để thực hiện tốt vấn đề này, cùng với sự bồi dưỡng, giáo dục của tổ chức Đảng, tổ chức Đoàn, mỗi cán bộ, đoàn viên cần thực hiện “học suốt đời, xây dựng xã hội học tập”; phải tự giác học tập nâng cao trình độ lý luận chính trị, trình độ chuyên môn nghiệp vụ; rèn luyện đạo đức cách mạng, nâng cao ý thức chấp hành chủ trương đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nâng cao bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin, nuôi dưỡng lòng yêu nước, yêu nhân dân, yêu chủ nghĩa xã hội; phát huy tinh thần tự lực, tự cường, tính xung kích của tuổi trẻ. Mỗi cán bộ, đoàn viên phải tạo dựng và thể hiện hình ảnh của mình trước các tầng lớp thanh niên. Trên cơ sở nâng cao chất lượng đoàn viên, tổ chức Đoàn phải không ngừng củng cố tổ chức của mình, chú trọng công tác cán bộ, công tác phát triển và quản lý, rèn luyện đoàn viên có chất lượng.

Vấn đề thứ haiNăng động, sáng tạo, góp phần xây dựng đơn vị không ngừng lớn mạnh. đây là mục tiêu mà cả hệ thống chính trị và toàn thể cán bộ, đảng viên, người lao động trong Khối đã, đang và sẽ phấn đấu thực hiện. Tuổi trẻ Đoàn khối làm gì để góp phần thực hiện mục tiêu này?

Trước hết, Đoàn cần gắn các cuộc vận động, các phong trào do Đoàn cấp trên phát động, các chương trình công tác, các hoạt động của mình với các nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, góp phần đẩy mạnh và hiệu quả trong sản xuất kinh doanh, đào tạo, tư vấn, quản lý điều hành; giữ vững đoàn kết và ổn định đơn vị; tích cực tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, củng cố quốc phòng và an ninh. Đoàn phải tập hợp, vận động đoàn viên, thanh niên tham gia tích cực các phong trào cách mạng trên các lĩnh vực, nhất là những lĩnh vực khó khăn, bức xúc cần đến vai trò xung kích của tuổi trẻ như làm việc tại các công trình xa, công trình trọng điểm, đấu tranh phòng, chống tội phạm, tệ nạn xã hội, vv... Để thực hiện tốt những nhiệm vụ khó khăn, phức tạp, cán bộ Đoàn phải thực sự tâm huyết, năng động, sáng tạo, tích cực vận động tập hợp lực lượng để tổ chức thực hiện; đoàn viên thanh niên phải thể hiện rõ vai trò “đâu cần thanh niên có, việc gì khó có thanh niên”. (Đoàn cần chủ động, mạnh dạn đăng ký với cấp uỷ, chính quyền đảm nhận những công trình, phần việc thanh niên).

Tôi đề nghị, sau Đại hội này, Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Đoàn Khối xây dựng Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội, đặc biệt chú trọng đến các chỉ tiêu đã được Đại hội thông qua, chú trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống góp phần “Nâng cao chất lượng tổ chức Đoàn và phong trào thanh niên”, để thực hiện mục tiêu lớn và xuyên suốt cả nhiệm kỳ như chủ đề mà Đại hội đã lựa chọn.

Thưa Đại hội,

Tại Đại hội, các đại biểu đã thể hiện tinh thần trách nhiệm, ý thức chính trị của mình đối với tổ chức Đoàn để lựa chọn những ứng viên tiêu biểu nhất, xứng đáng là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền lợi của đoàn viên để bầu vào BCH và bầu đoàn đại biểu đi dự Đại hội Đoàn Thành phố nhiệm kỳ 2017-2022. Đề nghị 15 đồng chí BCH khóa VII và 03 đại biểu đi dự Đại hội Đoàn thành phố phát huy dân chủ, trí tuệ, tiếp thu đầy đủ tinh thần của đại hội để lãnh đạo thực hiện thắng lợi Nghị quyết mà Đại hội Đoàn các cấp đã đề ra.

***

Kính thưa các đồng chí đại biểu,

Thưa Đại hội,

Đảng ta luôn xác định, chăm lo xây dựng tổ chức Đoàn là xây dựng Đảng trước một bước. Bác Hồ kính yêu đã căn dặn: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. Tôi đề nghị các cấp uỷ đảng, lãnh đạo đơn vị quan tâm hơn nữa đến công tác Đoàn và phong trào thanh niên của Khối, tin tưởng ở thanh niên, giao nhiệm vụ cho thanh niên, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho thanh niên hăng hái và tự tin tham gia vào các nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ sản xuất – kinh doanh của đơn vị.

Với niềm tin tưởng sâu sắc vào tuổi trẻ Đoàn khối, với trách nhiệm và tình cảm đối với tuổi trẻ, Ban Thường vụ Đảng uỷ Khối tin tưởng chắc chắn rằng trong nhiệm kỳ 2017-2022 công tác Đoàn và phong trào thanh niên của Khối sẽ tiếp tục kế thừa, phát huy và có những chuyển biến sâu sắc, tích cực để giành được những kết quả, thành tích cao hơn.

Một lần nữa, kính chúc các đồng chí đại biểu mạnh khoẻ, hạnh phúc và thành đạt. Chúc Đại hội thành công.

Xin trân trọng cảm ơn.

 

Khai mạc Đại hội đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Khối cơ sở Bộ Xây dựng lần thứ VII, nhiệm kỳ 2017 – 2022

03

Sáng nay 15/7, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Khối cơ sở Bộ Xây dựng long trọng tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ VII, nhiệm kỳ 2017 - 2022. Ngày 15/7 cũng là ngày thành lập Đoàn Khối cơ sở Bộ Xây dựng cách đây 32 năm.

Dự đại hội có các đồng chí Nguyễn Đức Dũng - Bí thư Đảng ủy Khối, Cục trưởng Cục công tác phía Nam - Bộ Xây dựng; đồng chí Trương Quý Kỳ - nguyên Bí thư Đảng ủy Khối, nguyên Cục trưởng Cục công tác phía Nam; các đồng chí đại diện BTV Đảng ủy Khối; Trưởng các Ban Đảng ủy Khối; bí thư Đoàn khối các thời kỳ; lãnh đạo cấp ủy các đơn vị trực thuộc Đảng ủy Khối; Ban Thường vụ Thành đoàn Tp. Hồ Chí Minh; cùng 120 đại biểu đại diện cho gần 4000 đoàn viên trong Khối.
 

Tại phiên thứ nhất sáng nay, đại biểu tham dự đã tiến hành bầu Đoàn chủ tịch điều hành Đại hội, thông qua báo cáo kiểm điểm BCH Đoàn khối nhiệm kỳ VI.

Nhiệm kỳ 2012 - 2017, công tác Đoàn và phong trào thanh niên Khối tiếp tục nhận được sự quan tâm, chăm lo và chỉ đạo sát sao của Thành đoàn, Cấp ủy, lãnh đạo các đơn vị có cơ sở Đoàn trực thuộc Đoàn khối, đặc biệt là sự quan tâm, chỉ đạo kịp thời các nội dung hoạt động của Ban Thường vụ Đảng ủy Khối, Cục công tác phía Nam - Bộ Xây dựng. Nhờ đó, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và tuổi trẻ toàn Khối đã phát huy thuận lợi, khắc phục khó khăn, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đoàn Khối lần thứ VI, đóng góp xứng đáng vào những kết quả của các đơn vị trong ngành xây dựng khu vực phía Nam và phong trào chung của Thành đoàn và Trung ương Đoàn. Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội nhiệm kỳ VI đã thể hiện các chỉ tiêu đạt và vượt.

Với khẩu hiệu hành động: “Rèn đức - Luyện tài - Đoàn kết – Xung kích vì sự phát triển đơn vị”, BCH Đoàn khối nhiệm kỳ VI đã thống nhất đưa ra các nhóm chỉ tiêu cơ bản thực hiện trong nhiệm kỳ tới.

Đặc biệt, Đại hội đã tiến hành bầu BCH nhiệm kỳ VII gồm 15 đồng chí có trình độ, năng lực, uy tín, trách nhiệm, phẩm chất đạo đức tốt, lối sống trong sạch lành mạnh, hứa hẹn nhiều đổi mới, sáng tạo, đưa công tác Đoàn, phong trào thanh niên Khối giành nhiều thắng lợi, phát triển lên bước mới trong nhiệm kỳ 2017 - 2022.

Chiều cùng ngày, Đại hội tiếp tục làm việc phiên thứ 2 với nhiều nội dung quan trọng như bầu Đoàn đại biểu dự Đại hội đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Tp. Hồ Chí Minh lần thứ X (2017 – 2022), ra mắt Ban Thường vụ, Bí thư, Phó Bí thư Đoàn Khối nhiệm kỳ VII; thông qua Nghị quyết Đại hội; khen thưởng các cá nhân vinh dự được Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tặng Kỷ niệm chương “Vì thế hệ trẻ”…

 

Tác giả bài viết: Xuân Ngọc

Kỷ niệm 42 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2017)

ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN

 

KỶ NIỆM 42 NĂM NGÀY GIẢI PHÓNG MIỀN NAM,

THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC

 (30/4/1975 - 30/4/2017)

 
   

I. CHẶNG ĐƯỜNG LỊCH SỬ, CHIẾN CÔNG OANH LIỆT CỦA SỰ NGHIỆP KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC, GIẢI PHÓNG MIỀN NAM, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC

1. Bối cảnh quốc tế và trong nước:

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, đế quốc Mỹ với vị trí một nước trong phe thắng trận, ít bị thiệt hại trong chiến tranh đã có tiềm lực rất mạnh, hiếu chiến và âm mưu bá chủ thế giới. Sau thất bại ở Điện Biên Phủ, Pháp buộc phải ngồi vào bàn đàm phán tại Giơ-ne-vơ ký Hiệp định về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam, chủ nghĩa thực dân cũ sụp đổ; Mỹ chính thức nhảy vào miền Nam Việt Nam, áp đặt chủ nghĩa thực dân kiểu mới, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta. Lúc này hai hệ thống tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa đối đầu gay gắt bằng cuộc chiến tranh lạnh và chạy đua vũ trang quyết liệt. Hệ thống xã hội chủ nghĩa, phong trào công nhân ở các nước tư bản, phong trào giải phóng dân tộc của các nước thuộc địa trên thế giới dâng cao. Việt Nam trở thành tiêu điểm hội tụ những mâu thuẫn của thời đại.

Trong nước, sau chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp, miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam vẫn dưới ách thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai. Nhiệm vụ tranh đấu giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc trở thành yêu cầu thiêng liêng, nhiệm vụ chính của toàn dân tộc.

2. Những bước phát triển của cuộc kháng chiến:

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Nhân dân ta đã trải qua gần 21 năm, là cuộc chiến tranh cứu nước ác liệt và phức tạp nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Có thể phân kỳ thành năm giai đoạn chiến lược, làm chuyển biến về tương quan lực lượng, cục diện chiến tranh để tạo nên bước nhảy vọt lớn tạo thời cơ để cách mạng Việt Nam đi đến giành thắng lợi hoàn toàn.

a. Giai đoạn thứ nhất từ tháng 7 năm 1954 đến hết năm 1960: Đảng lãnh đạo cuộc đấu tranh giữ gìn lực lượng, chuyển dần sang thế tiến công, làm thất bại bước đầu phương thức chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ.

          Tháng 7 năm 1954, tại Hội nghị ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam được diễn ra, với dã tâm từ trước, Mỹ là một trong những nước dự hội nghị, đã không ký tuyên bố cuối cùng của hội nghị “Thừa nhận về nguyên tắc độc lập, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam”. Mỹ nhanh chóng xúc tiến kế hoạch xâm nhập miền Nam nước ta để thay thế thực dân Pháp, thực chất là xâm chiếm miền Nam bằng chính sách thực dân mới. Mỹ dựng lên chính phủ bù nhìn Ngô Đình Diệm ở miền Nam với âm mưu tiêu diệt bằng được phong trào yêu nước và cách mạng của Nhân dân ta, chia cắt lâu dài đất nước ta, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới, căn cứ quân sự của Mỹ, làm bàn đạp tấn công miền Bắc và các nước xã hội chủ nghĩa.

          Đánh giá đúng bản chất, âm mưu xâm lược của đế quốc Mỹ, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 6 (tháng 7 năm 1954) chỉ rõ “Đế quốc Mỹ là kẻ thù chính của nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới và hiện đang trở thành kẻ thù chính, trực tiếp của nhân dân Đông Dương”. Đảng ta luôn nhất quán tinh thần chỉ đạo tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng: Cách mạng dân tộc dân chủ Nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Miền Bắc nhanh chóng tổ chức cuộc sống mới, trong ba năm (1958 - 1960), ta đã hoàn thành về cơ bản công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, bước đầu xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội theo con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, chuẩn bị về quân sự cho cách mạng cả nước giai đoạn mới. Ở miền Nam, cuộc đấu tranh diễn ra vô cùng khó khăn, ác liệt, Mỹ - Diệm lê máy chém đi khủng bố khắp miền Nam, thi hành chính sách “Tố cộng, diệt cộng” để tiêu diệt phong trào cách mạng, nhưng đại bộ phận Nhân dân vẫn một lòng theo Đảng, bất khuất chống áp bức, khủng bố, bảo vệ lực lượng cách mạng. 

          Hội nghị Trung ương lần thứ 15 (tháng 01 năm 1959) đã xác định con đường tiến lên của cách mạng miền Nam và chỉ rõ mục tiêu, phương pháp cách mạng miền Nam, mối quan hệ giữa hai chiến lược cách mạng ở hai miền Nam - Bắc, giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới, nhằm giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà. Nghị quyết số 15-NQ/TW của Trung ương đã phản ánh đúng nhu cầu lịch sử, giải quyết kịp thời yêu cầu phát triển của cách mạng miền Nam trong tình thế thực sự chín muồi, định hướng và động viên Nhân dân miền Nam vùng lên trong phong trào Đồng Khởi (1959 - 1960), xoay chuyển tình thế cách mạng miền Nam, đáp ứng nguyện vọng tha thiết lúc này của cán bộ, chiến sĩ và đồng bào miền Nam cũng như cả nước.

          Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhân dân có sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang cách mạng đã vùng lên khởi nghĩa giành chính quyền ở nhiều vùng nông thôn. Lực lượng vũ trang và hệ thống chỉ huy quân sự các cấp của ta từng bước hình thành, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam thành lập. Cuộc chiến tranh Giải phóng miền Nam đã được khởi động một cách độc đáo, khéo léo, làm thất bại một hình thức thống trị điển hình theo phương thức chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ.

          b. Giai đoạn hai từ năm 1961 đến giữa năm 1965: Giữ vững và phát triển thế tiến công, đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ.

          Từ cuối năm 1960, việc sử dụng chính quyền tay sai độc tài phát xít Ngô Đình Diệm đã liên tiếp bị thất bại. Để đối phó với sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng miền Nam, chiếm lại những địa bàn, vùng dân cư đã mất sau cuộc Đồng Khởi của ta, đế quốc Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”. Đây là chiến lược đầu tiên trong ba loại chiến tranh nằm trong chiến lược quân sự toàn cầu “Phản ứng linh hoạt” của Mỹ.

          Đối trọng với chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ, Đảng ta chủ trương chuyển cách mạng Giải phóng miền Nam lên giai đoạn mới. Từ đây, cuộc khởi nghĩa từng phần phát triển lên thành cuộc chiến tranh cách mạng quy mô toàn miền. Trong những năm 1961 - 1964, Nhân dân miền Nam vừa đấu tranh, vừa chú trọng xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng với sự chi viện hiệu quả từ miền Bắc. Nhiều trung đoàn chủ lực miền Nam được thành lập. Tích cực mở rộng căn cứ cách mạng, phát triển chiến tranh du kích, tăng cường đánh phá các căn cứ quân sự xung yếu của địch như sân bay, kho tàng, bến cảng, phá hệ thống ấp chiến lược do địch lập ra, liên tiếp giành thắng lợi trên các chiến trường. Điển hình là trận Ấp Bắc (tháng 01 năm 1963), chiến dịch Bình Giã (tháng 12 năm 1964 - tháng 01 năm 1965), Ba Gia (tháng 5 năm 1965 - tháng 7 năm 1965), Đồng Xoài (tháng 5 năm 1965 - tháng 7 năm 1965).

          Dựng lên sự kiện “Vịnh Bắc Bộ”, đế quốc Mỹ mở đầu cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân. Ngày 05 tháng 8 năm 1964, chúng dùng 64 lần máy bay mở cuộc tiến công “Mũi tên xuyên” đánh ồ ạt ở các khu vực sông Gianh (Quảng Bình), Cửa Hội (Vinh), Lạch Trường (Thanh Hóa), Bãi Cháy (Quảng Ninh). Các đơn vị hải quân, phòng không, dân quân tự vệ đã nâng cao cảnh giác, hiệp đồng chặt chẽ, mưu trí dũng cảm, chiến đấu ngoan cường, bắn rơi 8 máy bay. Ngày 05 tháng 8 trở thành ngày truyền thống đánh thắng trận đầu của bộ đội Hải quân nhân dân Việt Nam. Chiến thắng ngày 05 tháng 8 năm 1964 cổ vũ mạnh mẽ khí thế chiến đấu, củng cố niềm tin và khẳng định ý chí quyết tâm đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân Mỹ của Nhân dân ta.

          c. Giai đoạn ba từ giữa năm 1965 đến hết năm 1968: Đảng phát động toàn dân chống Mỹ, cứu nước, đánh bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ ở miền Nam, đánh thắng cuộc phá hoại bằng không quân, hải quân lần thứ nhất ở miền Bắc.

          Thực chất của chiến lược “Chiến tranh cục bộ” là sử dụng quân Mỹ làm lực lượng cơ động, chủ yếu để tiêu diệt bộ đội chủ lực của ta; quân ngụy làm lực lượng chiếm đóng, bình định, kìm kẹp dân hòng đánh bại cách mạng miền Nam trong vòng 25 - 30 tháng (từ giữa năm 1965 đến năm 1967). Chúng đưa vào miền Nam hơn nửa triệu quân Mỹ và quân đội một số nước chư hầu. Đồng thời sử dụng không quân và hải quân mở chiến dịch “Sấm rền”, đánh phá ác liệt với mưu đồ “Đưa miền Bắc trở lại thời kỳ đồ đá”, hòng ngăn chặn chi viện từ miền Bắc và quốc tế vào miền Nam.

          Trước tình hình leo thang chiến tranh của địch và những khó khăn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, các hội nghị Trung ương lần thứ 11 (tháng 3 năm 1965) và lần thứ 12 (tháng 12 năm 1965) trên cơ sở phân tích một cách khoa học, so sánh lực lượng giữa ta và địch, Trung ương khẳng định sự thất bại không tránh khỏi của đế quốc Mỹ và hạ quyết tâm động viên lực lượng cả nước giữ vững chiến lược tấn công, nêu cao ý chí tự lực, tự cường, phát huy sức mạnh của toàn dân tộc, tranh thủ sự giúp đỡ của quốc tế, kiên quyết đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược, Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Ngày 17 tháng 7 năm 1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi lịch sử, kêu gọi toàn dân đoàn kết một lòng, quyết tâm chống Mỹ, cứu nước.

          Trước tình hình đó, các lực lượng vũ trang cách mạng đã tăng cường xây dựng lực lượng ba thứ quân, đẩy mạnh tác chiến của bộ đội chủ lực kết hợp với hoạt động tác chiến rộng khắp của bộ đội địa phương và dân quân, du kích. Chiến thắng Núi Thành của bộ đội địa phương tỉnh Quảng Nam (tháng 5 năm 1965), chiến thắng Vạn Tường (tháng 8 năm 1965), thắng lợi của các chiến dịch Plây-me (tháng 11 năm 1965) và tiếp đó là các chiến công vang dội đập tan hai cuộc phản công chiến lược mùa khô (1965 - 1966, 1966 - 1967) của Mỹ ở miền Nam, đẩy Mỹ vào thế tiến thoái lưỡng nan về chiến lược.

          Thực hiện chủ trương của Đảng, quân và dân ta mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân năm 1968 nhằm giáng một đòn quyết liệt vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ. Đêm 30, rạng sáng ngày 31 tháng 01 năm 1968 (tức đêm mùng 1, rạng sáng mùng 2 Tết Mậu Thân) các lực lượng vũ trang và Nhân dân miền Nam đã tiến công và nổi dậy trên toàn miền, đồng loạt tiến công địch ở 4 thành phố, 37 thị xã, hàng trăm thị trấn, đánh vào hầu hết cơ quan đầu não Trung ương, địa phương của Mỹ lẫn ngụy. Nhân dân nhiều vùng nông thôn đã nổi dậy mạnh mẽ, đập tan bộ máy kìm kẹp của địch, phá vỡ hàng loạt “Ấp chiến lược”, bức rút nhiều hệ thống đồn bót, giải phóng và giành quyền làm chủ, xây dựng chính quyền cách mạng, mở rộng và củng cố hậu phương ta. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân năm 1968 của ta như “Một đòn sét đánh” đối với bọn trùm xâm lược Mỹ, làm choáng váng cả nước Mỹ và chấn động dư luận thế giới.

          d. Giai đoạn thứ tư từ năm 1969 đến năm 1973: Phát huy sức mạnh liên minh chiến đấu Việt Nam với Lào, Campuchia, làm thất bại một bước chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân lần thứ hai ở miền Bắc, tạo thế mạnh trong đàm phán.

          Thực chất của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” là “Đổi màu da trên xác chết”, “Dùng người Việt giết người Việt”, “Dùng người Đông Dương giết người Đông Dương” bằng tiền của và vũ khí của Mỹ, do người Mỹ chỉ huy. Chính quyền Ních-xơn vừa từng bước rút quân Mỹ, vừa ra sức củng cố và tăng cường ngụy quân, ngụy quyền, vừa phản công và tiến công quyết liệt để chống phá ta. Chúng tập trung hầu hết lực lượng của Mỹ - ngụy để bình định nông thôn, sử dụng phương tiện chiến tranh hiện đại, kể cả vũ khí hóa học, chiến tranh điện tử và không quân chiến lược để tiến hành chiến tranh hủy diệt, chiến tranh giành dân, đánh phá các căn cứ địa cách mạng và hậu phương của ta.

          Trước tình hình đó, Đảng ta nhận định: Đông Dương đã trở thành một chiến trường thống nhất, kẻ thù chung của cả ba nước Đông Dương lúc này là đế quốc Mỹ xâm lược. Miền Nam Việt Nam là chiến trường chính, Campuchia là chiến trường yếu nhất của địch, Lào ngày càng có vị trí hiểm yếu, miền Bắc Việt Nam là hậu phương chung của cả ba nước Đông Dương. Quân và dân ta phối hợp với Lào và Campuchia, đánh địch trên khắp chiến trường ba nước Đông Dương, đập tan cuộc hành quân “Lam Sơn 719” ở Đường 9 - Nam Lào, đánh bại cuộc hành quân “Toàn thắng 01 năm 1971” ở Campuchia, đánh tơi tả lực lượng của địch ở ngã ba biên giới, tiêu diệt địch trong cuộc hành quân “Chen La II” ở Đông Bắc Campuchia, đập tan quá trình tiến công - phản kích bằng các cuộc hành quân lớn của Mỹ, ngụy trên chiến trường ba nước Đông Dương.

          Ngày 06 tháng 4 năm 1972, Mỹ huy động không quân và hải quân ồ ạt đánh phá miền Bắc lần thứ hai (đây còn gọi là “Chiến dịch Lai-nơ Bếch-cơ”), thả mìn phong tỏa các hải cảng và bờ biển miền Bắc Việt Nam. Với tinh thần dũng cảm và cách đánh mưu trí linh hoạt, qua bảy tháng chiến đấu quyết liệt, quân và dân miền Bắc, nòng cốt là Quân chủng Phòng không, không quân; Quân chủng Hải quân; Binh chủng Pháo binh, đã bắn rơi hơn 600 máy bay, trong đó có chiếc thứ 4.000 bị bắn rơi trên miền Bắc, bắn chìm và bắn cháy gần 100 tàu chiến Mỹ.

          Ngày 22 tháng 10 năm 1972, “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” đã hoàn thành về nội dung, nhưng ngay ngày hôm sau, Mỹ lại tráo trở, đòi sửa lại nhiều điểm quan trọng thuộc nội dung Hiệp định, đồng thời chúng liều lĩnh tiến hành một nấc thang chiến tranh mới cực kỳ tàn bạo. Từ ngày 18 đến ngày 29 tháng 12 năm 1972, Ních-xơn ra lệnh mở cuộc tập kích đường không chiến lược quy mô lớn nhất mang tên “Chiến dịch Lai-nơ Bếch-cơ II” vào miền Bắc. Một lần nữa, quân và dân miền Bắc đã anh dũng, mưu trí, chiến đấu kiên cường, trừng trị thích đáng không quân Mỹ.

e. Giai đoạn thứ năm từ cuối năm 1973 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975: Tạo thế và lực, tạo thời cơ, kiên quyết tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân năm 1975, kết thúc thắng lợi trọn vẹn cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Sau khi ký Hiệp định Pa-ri, mặc dù buộc phải rút hết quân nhưng đế quốc Mỹ âm mưu củng cố ngụy quân, ngụy quyền làm công cụ thực hiện chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam Việt Nam, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới. Mỹ tăng cường chi viện tiền của, vũ khí, phương tiện chiến tranh cho quân ngụy, lấn đất giành dân, thực hiện các hoạt động ngoại giao xảo quyệt để ngăn chặn sự phát triển của cách mạng miền Nam. Đến tháng 5 năm 1973, xu thế chống phá Hiệp định Pa-ri của địch ngày càng tăng. Chúng điên cuồng đánh phá hòng xóa bỏ vùng giải phóng của ta, đẩy lùi lực lượng cách mạng.

Tháng 7 năm 1973, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 21 khẳng định con đường cách mạng miền Nam vẫn là con đường bạo lực và đề ra các nhiệm vụ lớn cho hai miền Nam - Bắc. Nửa cuối năm 1974, cuộc chiến tranh của quân và dân ta ở miền Nam chống chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” đã giành được thắng lợi. Nước Mỹ lâm vào khủng hoảng nội bộ. Tháng 7 năm 1974, Đảng ta chỉ đạo Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam xây dựng kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam trong hai năm 1975 - 1976, nếu thời cơ đến sẽ giải phóng miền Nam trong năm 1975.

          Đầu năm 1975, trên cơ sở đánh giá, so sánh lực lượng giữa ta và địch, nắm bắt thời cơ lịch sử, Bộ Chính trị hạ quyết tâm chiến lược, giải phóng miền Nam, đánh bại hoàn toàn cuộc chiến tranh thực dân mới của Mỹ bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân năm 1975. Ngày 04 tháng 3 năm 1975 bộ đội ta mở chiến dịch Tây Nguyên. Sau một số trận đánh tạo thế và nghi binh chiến dịch, ngày 10 và 11 tháng 3 năm 1975, quân ta tiến công bằng sức mạnh binh chủng hợp thành, giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột. Đây là trận đánh then chốt của chiến dịch, một trận điểm đúng huyệt, tiêu diệt nhiều lực lượng tinh nhuệ và khí tài chiến tranh của địch, làm rối loạn sự chỉ đạo chiến lược và đảo lộn thế phòng thủ ở chiến trường Tây Nguyên, mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân năm 1975.

          Trên cơ sở những thắng lợi có ý nghĩa quyết định, ngày 14 tháng 4 năm 1975, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Hồ Chí Minh nhằm giải phóng Sài Gòn - Gia Định và hoàn toàn miền Nam. Thực hiện tư tưởng chỉ đạo “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”, các đơn vị chủ lực của quân đội ta đã thực hiện cuộc hành quân thần tốc, tiến về giải phóng Sài Gòn:

          Hướng Tây Bắc có Quân đoàn 3 tăng cường phối hợp với lực lượng vũ trang Tây Ninh, Sài Gòn - Gia Định;

          Hướng Bắc và Đông Bắc có Quân đoàn 1 tăng cường lực lượng đặc công, xe tăng, cao xạ;

          Hướng Đông và Đông Nam có Quân đoàn 4 và Quân đoàn 2 tăng cường pháo binh, xe tăng, cao xạ, đặc công, biệt động;

          Hướng Tây và Tây Nam có Đoàn 232 chủ lực miền Nam và chủ lực Quân khu 8, lực lượng tương đương một quân đoàn;

          Vùng ven và nội thành Sài Gòn có các đơn vị đặc công, pháo binh kết hợp với lực lượng chính trị của Nhân dân.

          Ngày 30 tháng 4 năm 1975, các binh đoàn đột kích thọc sâu kết hợp với lực lượng bên trong nhanh chóng đánh chiếm các mục tiêu trọng yếu của địch ở nội thành như: Sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng tham mưu ngụy, Bộ Tư lệnh Biệt khu Thủ đô, căn cứ Hải quân, Cảng Bạch Đằng, Đài Phát thanh, Tổng nha cảnh sát Trung ương. Lúc 10 giờ 45 phút, Binh đoàn hỗn hợp chủ lực Quân đoàn 2 của ta chiếm “Dinh Độc Lập”, bắt toàn bộ ngụy quyền Trung ương, buộc chúng tuyên bố đầu hàng không điều kiện. Cờ giải phóng đã tung bay trước tòa nhà chính “Dinh Độc Lập” lúc 11 giờ 30 phút, ngày 30 tháng 4 năm 1975. Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử toàn thắng; cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân năm 1975 thắng lợi hoàn toàn.

II. ĐẢNG BỘ VÀ NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG THỜI KỲ ĐẤU TRANH CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC

          Thực hiện âm mưu xâm lược Việt Nam, Mỹ đã tiến hành các thủ đoạn nhằm độc chiếm, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của chúng, làm bàn đạp để tiến công miền Bắc, thôn tính cả nước ta.

          Mỹ và chính quyền tay sai đã chọn Sài Gòn - Gia Định làm thủ đô của chính thể “Việt Nam Cộng hòa”, là trung tâm đầu não, sào huyệt, bộ mặt ngoại giao, trung tâm kinh tế, văn hóa và còn là căn cứ quân sự lớn nhất của chúng ở miền Nam. Sài Gòn - Gia Định trở thành bộ mặt điển hình của chủ nghĩa thực dân mới và là biểu tượng cho sức mạnh về mọi mặt của Mỹ - chính quyền tay sai ở miền Nam Việt Nam, chúng ra sức củng cố và tăng cường bảo vệ, cố giữ cho được vị trí chiến lược quan trọng này trong suốt quá trình tiến hành các chiến lược chiến tranh xâm lược trên đất nước ta. Vì vậy, Nhân dân Sài Gòn - Gia Định trực tiếp hứng chịu sự kìm kẹp, bóc lột, đàn áp rất khắc nghiệt và dã man bởi chính sách, thủ đoạn cai trị thâm độc, tàn bạo của Mỹ và tay sai.

          Sài Gòn - Gia Định bị biến thành thủ phủ thuộc địa của chế độ thực dân kiểu mới và trong bối cảnh đất nước bị chia cắt, dưới bàn tay của Mỹ - chính quyền tay sai còn là nơi tập trung sâu sắc nhất, điểm xoáy của những mâu thuẫn xã hội ở miền Nam Việt Nam. Đảng bộ và quân dân Sài Gòn - Gia Định đã phải đương đầu với kẻ thù sừng sỏ, rất hung hãn và tàn bạo ngay tại trung tâm sào huyệt của chúng.

          Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Đảng bộ, quân, dân Sài Gòn - Chợ Lớn và Gia Định đấu tranh kiên cường, thắng lợi vẻ vang, góp phần xứng đáng vào thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

          Hiệp định Giơ-ne-vơ vừa được ký kết (20 tháng 7 năm 1954), mặc dù Mỹ - Diệm đã ra sức phá hoại Hiệp định, chúng thiết lập chế độ độc tài phát xít, đàn áp các lực lượng đối lập và thực hiện chính sách tàn bạo “Tố cộng, diệt cộng” trên toàn miền Nam Việt Nam; nhưng tuân thủ nội dung Hiệp định Giơ-ne-vơ, từ năm 1954 đến năm 1959, Trung ương Đảng chủ trương miền Nam thực hiện đấu tranh chính trị, Đảng bộ Sài Gòn - Chợ Lớn và Gia Định đã lãnh đạo Nhân dân tiến hành cuộc đấu tranh đòi Mỹ - Diệm thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, đòi các quyền dân sinh, dân chủ và giữ gìn lực lượng cách mạng. Tháng 11 năm 1954, Hội nghị Khu ủy mới của Sài Gòn - Chợ Lớn do Trung ương Cục chỉ định đã phân tích đặc điểm tình hình của Thành phố và đã chỉ ra rằng: Nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn vốn có truyền thống cách mạng rất cao, lại rất nhạy bén với thời cuộc; Thành phố đang sôi nổi bước vào phong trào đấu tranh chính trị, đang có nhiều thuận lợi cho ta.

          Các tầng lớp Nhân dân đã tham gia đấu tranh sôi nổi với các hình thức biểu tình, bãi công, bãi thị, bãi khóa… tạo thành cao trào, phong trào đấu tranh chính trị nối tiếp nhau liên tục. Thực tiễn cuộc đấu tranh của Đảng bộ và Nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn và Gia Định trước khó khăn, khắc nghiệt của giai đoạn này đã chứng tỏ tinh thần cách mạng, chấp nhận hy sinh gian khổ để đi theo Đảng, trong đấu tranh đã sáng tạo góp phần cung cấp kinh nghiệm cho Đảng để đề ra đường lối cách mạng miền Nam, đó là khởi nghĩa giành chính quyền, đấu tranh chính trị kết hợp với vũ trang.

          Tháng 11 năm 1959, Nghị quyết 15-NQ/TW của Trung ương Đảng được triển khai như một luồng gió mới khơi dậy các tiềm năng cách mạng. Từ năm 1960 - 1965, Đảng bộ và Nhân dân Sài Gòn - Gia Định với cuộc chiến đấu sinh động của mình ngay ở sào huyệt kẻ thù đã góp phần xứng đáng vào quá trình đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ.

Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III), họp vào tháng 01 năm 1968 chỉ rõ: Cuộc kháng chiến của ta lúc này cần phải và có thể tạo một chuyển biến lớn giữa lúc đế quốc Mỹ đang ở thế lưỡng nan về chiến lược, giới cầm quyền Mỹ đang dao động trong thời điểm rất nhạy cảm của năm bầu cử Tổng thống Mỹ, để chuyển cách mạng và chiến tranh cách mạng miền Nam sang một thời kỳ mới, thời kỳ giành thắng lợi quyết định; phải tạo được một bước ngoặt lớn của chiến tranh; phải tạo một bước nhảy vọt bằng chọn hướng chiến lược hiểm và dùng cách đánh mới, giáng một đòn bất ngờ thật mạnh vào ý chí xâm lược của Mỹ.

Phát huy khí thế tiến công, Đảng bộ Sài Gòn - Gia Định đã lãnh đạo quân, dân thành phố đánh bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ và tham gia vào cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968.

          Đến trước thắng lợi của việc ký kết Hiệp định Pa-ri (tháng 01 năm 1973), phong trào đấu tranh của Sài Gòn - Gia Định dâng cao, tạo nên thực lực cách mạng để chuẩn bị đón thời cơ mới. Các phong trào bùng lên quyết liệt thu hút hầu hết các lực lượng đấu tranh tạo “Tình thế cách mạng” cho thành phố - khẩu hiệu chính trị “Đuổi Mỹ, lật Thiệu” biểu hiện trong các phong trào chống chính sách văn hóa thực dân, chiến dịch đốt xe Mỹ, phong trào phản đối thuế lương bổng, phong trào “Chống chiến tranh và tổng động viên”, phong trào “Chống bầu cử gian lận”, tố cáo tội ác Mỹ - Thiệu, “Nói cho đồng bào tôi nghe và nghe đồng bào tôi nói”, “Phong trào phụ nữ đòi quyền sống”, “Phong trào báo chí cách mạng”, phong trào chống bắt lính đôn quân, bảo vệ thanh niên trốn lính và lính trốn… trong đó, phong trào sinh viên - học sinh của Thành Đoàn đã trở thành trung tâm đột phá của phong trào đô thị; ta đẩy mạnh chiến tranh du kích đánh địch, mở rộng vùng giải phóng, mở hành lang, nối liền hậu cứ với tuyến trước, lực lượng vũ trang thành phố đứng chân vững chắc ở vùng ven đô, phát triển thế và lực cách mạng nông thôn ngoại thành.

          Ngày 27 tháng 01 năm 1973, Hiệp định Pa-ri  về “Chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” được ký kết, đây là thắng lợi vô cùng quan trọng của Nhân dân ta đã giành được trong cuộc đấu tranh lâu dài chống đế quốc Mỹ xâm lược. Trên chiến trường miền Nam, không còn quân đội Mỹ, sự so sánh lực lượng thay đổi có lợi cho ta. Đảng bộ Sài Gòn - Gia Định cùng toàn Đảng, toàn dân bước tiếp một giai đoạn đấu tranh mới: Đánh cho ngụy nhào để kết thúc chiến tranh và giành độc lập thống nhất hoàn toàn cho Tổ quốc.

          Ngay từ ngày 24 tháng 01 năm 1973, Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số 200-CT/TW chỉ rõ: “Cuộc cách mạng ở miền Nam có nhiều thuận lợi mới nhưng còn gay go, phức tạp, có khả năng tiến triển trong điều kiện hòa bình được giữ vững, nhưng phải sẵn sàng đối phó với khả năng địch ngoan cố phá hoại hòa bình”.

Chỉ thị số 03/CT-73, ngày 27 tháng 3 năm 1973, Trung ương Cục cũng nêu rõ: “Tuyệt đối ta không ảo tưởng địch sẽ thi hành Hiệp định nhưng cũng không đơn giản cho rằng địch muốn làm gì thì làm. Mặt quan trọng có tính chất quyết định là nỗ lực và tác động chủ quan của phía cách mạng”, phải kiên trì và hết sức khẩn trương đẩy mạnh đấu tranh và xây dựng thực lực cách mạng. Mặt khác cần phải dùng các điều khoản mang tính pháp lý Hiệp định để đẩy mạnh đấu tranh chính trị và binh vận.

Đảng bộ Sài Gòn - Gia Định đã lãnh đạo Nhân dân chống địch phá hoại Hiệp định Pa-ri và đòi các quyền dân sinh, dân chủ, tiến lên đẩy mạnh đấu tranh, phát triển vững chắc thế và lực của cách mạng. Cùng với khí thế tiến công trên chiến trường cả nước, quân, dân Sài Gòn - Gia Định tiến công địch, chủ động đánh địch ngay trong vùng chúng kiểm soát, đấu tranh chính trị kết hợp hoạt động vũ trang, công tác binh vận được đẩy mạnh để đánh địch, cơ sở cách mạng phát triển mạnh, tạo điều kiện đón thời cơ chiến lược.

Đấu tranh chính trị diễn ra sôi nổi, dồn dập, sâu rộng trong các tầng lớp Nhân dân đòi lật đổ Thiệu, chấm dứt chiến tranh, trả tù chính trị… thông qua các “Phong trào chống sa thải công nhân”, “Phong trào cứu đói”, “Bảo vệ quyền lợi người lao động”; các cuộc đấu tranh “Ngày ký giả đi ăn mày”, “Báo chí và công lý thọ nạn”… Hoạt động vũ trang được đẩy mạnh, lực lượng địa phương Sài Gòn - Gia Định hình thành 6 mũi tiến công (trong đó có 6 đoàn đặc công, 3 tiểu đoàn biệt động và 11 đại đội) - ta đẩy mạnh chiến tranh du kích, đánh phá ấp chiến lược, giao thông của địch, tổ chức tuyên truyền vũ trang, diệt ác, phá kìm, tạo được địa bàn vững chắc ngay ở ven đô. Nhiệm vụ chuẩn bị tạo điều kiện tiến hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa giành chính quyền của Sài Gòn - Gia Định đã hoàn thành, sẵn sàng tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Ngày 31 tháng 3 năm 1975, Bộ Chính trị họp và nhận định: “Cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam không những đã bước vào giai đoạn phát triển nhảy vọt mà thời cơ để mở tổng tấn công và nổi dậy tại Sài Gòn - Gia Định đã chín muồi”.

          Ngày 12 tháng 4 năm 1975, Thường vụ Thành ủy Sài Gòn - Gia Định ra Chỉ thị “Những việc cần làm ngay trong các giai đoạn: trước, trong và sau khi thành phố được giải phóng”, khẳng định “Hiện nay chúng ta đang ở thời kỳ trực tiếp cách mạng ở thành phố, là giai đoạn tổng công kích, tổng khởi nghĩa để giành toàn bộ chính quyền về tay Nhân dân… ”. Chỉ thị kêu gọi toàn Đảng, toàn dân chấp nhận hi sinh để hoàn thành sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc.

          Trước ngày Tổng tiến công và nổi dậy, ở thành phố có hơn 700 cán bộ, ở vùng ven có hơn 1.000 cán bộ, hơn 1.300 cán bộ ở gần sẵn sàng vào thành phố, nội thành và vùng ven có 1.200 đảng viên và hơn 10.000 quần chúng nòng cốt; có 40 lõm chính trị với 7.000 quần chúng đã giành quyền làm chủ, 400 tổ chức công khai với gần 25.000 quần chúng; tổ chức cơ sở và đã in hàng triệu bản tài liệu, truyền đơn, may cờ, kẻ khẩu hiệu, chuẩn bị loa, kèn, trống, hàng trăm xe có gắn loa phóng thanh để tuyên truyền, vận động nổi dậy. Nhân dân thành phố đã tham gia chuẩn bị tại chỗ và chuyển từ ngoài với khối lượng 58.000 tấn vũ khí, lương thực, nhiên liệu, thuốc men, dụng cụ y tế… bảo đảm hậu cần cho chiến dịch đến 60%.

          Tất cả các lực lượng và công tác hậu cần đã sẵn sàng bước vào trận quyết chiến chiến lược. Dưới sự lãnh đạo toàn diện và sâu sát của Thành ủy, toàn Đảng bộ và quân, dân Sài Gòn - Gia Định đã sẵn sàng đi vào chiến dịch với khí thế sôi sục và quyết tâm hơn bao giờ hết.

          Từ ngày 25 tháng 4 năm 1975, khi các Quân đoàn ta tiến vào điểm tập kết bao vây Sài Gòn thì các xã Tân Kiên, Tân Nhựt, Tân Tạo (Bình Chánh), Nhân dân đã dẫn đường cho bộ đội chủ lực và nổi dậy diệt tề, treo cờ giải phóng.

          14 giờ, ngày 26 tháng 4 năm 1975, Thành ủy họp ở An Thạnh để kiểm điểm lại lần cuối toàn bộ công việc đã chuẩn bị và sau đó xuống cơ sở để trực tiếp chỉ đạo công việc khởi nghĩa ở thành phố và ven đô. Các lực lượng vũ trang của Thành đội, các lực lượng đặc công đã ém sẵn ở các cầu dẫn vào thành phố và các vị trí xung yếu, sẵn sàng đánh địch. Giờ giải phóng Sài Gòn đã điểm!

          17 giờ, ngày 26 tháng 4 năm 1975, cuộc Tổng Tiến công của đại quân ta vào tuyến phòng thủ ngoại vi của Sài Gòn - Gia Định bắt đầu. Vành đai phòng thủ vòng ngoài của Sài Gòn bị chọc thủng, quân ta áp sát và chuẩn bị tiến công vào nội đô. Đêm đó, Nguyễn Văn Thiệu cùng Trần Thiện Khiêm lên máy bay đào tẩu khỏi Sài Gòn.

          Chiều ngày 26 tháng 4, các đồng chí phụ trách Ban Công vận đã truyền lệnh Tổng khởi nghĩa cho tất cả cơ sở của Ban Công vận trong Thành phố.

          Ngày 28 tháng 4, sân bay Tân Sơn Nhất bị không quân ta ném bom. 15 giờ cùng ngày, Dương Văn Minh nhậm chức Tổng thống, nhân cơ hội này ta đưa người vào nắm các chức vụ quan trọng trong quân đội, cảnh sát, chính quyền địch để góp phần làm địch nhanh chóng tan rã, thúc đẩy Chính phủ ngụy quyền sớm đầu hàng, tránh làm đổ nát, thương vong cho Thành phố.

          Ta kêu gọi Nhân dân nổi dậy giành chính quyền và binh sĩ ngụy đầu hàng trên báo “Điện tín”. Các cơ sở nội tuyến, điệp báo, binh vận của ta ở nội đô hoạt động không cho địch tẩu tán, phá hủy tài liệu, tài sản công sở.

          Phối hợp với các cuộc tiến công của các quân đoàn từ ngoài đánh vào, các lực lượng vũ trang địa phương, du kích, biệt động, đặc công ở ven đô và nội đô đã tiến đánh các mục tiêu; đánh địch ở Tân Cảng, Cổ Loa và đánh chiếm một số nơi để hỗ trợ cho đồng bào nổi dậy (quận 6, Tân Sơn Nhì, Phú Thọ Hòa…).

          5 giờ, ngày 29 tháng 4 năm 1975, quân ta nã pháo vào sân bay Tân Sơn Nhất, các quân đoàn chủ lực ào ạt tiến về Thành phố. Các đơn vị đặc công, biệt động, an ninh của ta đánh chiếm các cầu và áp sát mục tiêu - lực lượng vũ trang Sài Gòn - Gia Định đã chiếm giữ 14 chiếc cầu cho đại quân ta tiến vào nội đô. Ở các trọng điểm khởi nghĩa và các nơi có điều kiện, Nhân dân ta đã đứng lên giành chính quyền (một số nơi của Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, Gò Vấp, Bình Thạnh, Tân Bình). Chiều cùng ngày, 16.000 cảnh sát được cho về nhà, bộ máy kìm kẹp của ngụy quyền ở cơ sở bị tan rã đã tạo điều kiện cho đồng bào nội đô nổi dậy. Đêm cùng ngày, Bộ Tổng Tham mưu và các đơn vị phòng thủ của quân ngụy hầu hết tan rã, bỏ chạy; cơ sở an ninh, bí mật của ta nắm chỉ huy quân đội, thúc đẩy Dương Văn Minh sớm đầu hàng.

          5 giờ 30, ngày 30 tháng 4 năm 1975, quân ta từ 4 hướng đồng loạt tiến vào nội thành, lúc 9 giờ 30 phút, Dương Văn Minh đưa lên Đài Phát thanh Sài Gòn phát đi  “Tuyên bố thành phố bỏ ngỏ” và cho phát lệnh kêu gọi binh sĩ ngừng bắn, ở đâu giữ nguyên ở đó...

          Nhân dân dưới sự lãnh đạo của các cơ sở đảng và của các đoàn thể, ban, ngành đã nhanh chóng vùng lên treo cờ, khẩu hiệu cách mạng và tỏa ra chiếm các công sở, đồn, trại, bót cảnh sát của địch, giành chính quyền về tay Nhân dân, suốt ngày 29 đến rạng sáng 30 tháng 4 năm 1975, đã có 107 điểm nổi dậy của Nhân dân. Được lực lượng vũ trang tại chỗ hỗ trợ, Nhân dân đã tự giải phóng các huyện lỵ Củ Chi, Hóc Môn, Gò Vấp, Thủ Đức, Bình Chánh, Cần Giờ; chiếm trụ sở hành chính các quận 3, 5, 8, 10, 11, Tòa hành chính tỉnh Gia Định, chiếm 2 ty cảnh sát của quận 3 và 5; khu trọng điểm khởi nghĩa ở Ngã Bảy, các điểm khởi nghĩa của Thành Đoàn và Hoa vận. Các chi bộ đảng ở xí nghiệp đã lãnh đạo công nhân nổi dậy chiếm các cơ sở sản xuất, các công xưởng, nhà máy nước, nhà máy điện… giữ cho thành phố không bị mất điện, mất nước. Các cơ sở binh vận của ta nhanh chóng lãnh đạo Nhân dân kêu gọi binh lính địch buông súng, giúp họ trở về gia đình.

          Gần 11 giờ trưa, ngày 30 tháng 4 năm 1975, mũi thọc sâu của Quân đoàn 2 với chiếc xe tăng mang số hiệu 390 húc đổ cổng chính và tiến thẳng vào Dinh Độc Lập, chính thức kết thúc chế độ Mỹ và tay sai ở miền Nam Việt Nam và đánh dấu giờ phút lịch sử vinh quang của Đảng ta hoàn thành sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước.

          Cùng lúc, các cánh quân của ta tỏa ra chiếm lĩnh các mục tiêu trong thành phố. Nhân dân thành phố đã mang cờ, hoa ra đường để chào quân giải phóng và hỗ trợ các lực lượng vũ trang, an ninh truy quét tàn quân, kêu gọi binh sĩ Sài Gòn ra trình diện, giữ trật tự an ninh, góp phần xây dựng chính quyền cách mạng.

          Ngày 06 tháng 5 năm 1975, Thành ủy họp mở rộng sơ bộ nhận xét về kết quả Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng thành phố và nhanh chóng chỉ đạo toàn Đảng bộ tiếp tục thực hiện các phần việc sau khi giải phóng như Chỉ thị ngày 12 tháng 4 năm 1975 đã đề ra.

          Trong thắng lợi huy hoàng của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, Đảng bộ và quân, dân Sài Gòn - Gia Định đã góp một phần công sức xứng đáng.

          Trong chiến dịch Hồ Chí Minh đã biểu lộ sự hiệp đồng chiến đấu tuyệt vời của quân chủ lực (5 quân đoàn) với lực lượng vũ trang thành phố; với sự nổi dậy dưới nhiều mức độ các thời điểm khác nhau của Nhân dân; với sự tham gia tấn công địch của tất cả các lực lượng yêu nước vào ngay các cơ quan đầu não của địch đã làm cho quân thù nhanh chóng tan rã và sụp đổ. Chính sự hiệp đồng chiến đấu tuyệt vời đã thực hiện được ước vọng của Đảng và Nhân dân là giữ cho thành phố được nguyên vẹn. “Quần chúng đã vào trận chiến đúng lúc, không quá sớm, cũng không muộn quá. Hành động yêu nước của Nhân dân tạo ra khí thế cách mạng tràn ngập đường phố, là sức mạnh to lớn. Đây là cái quý nhất của quần chúng Sài Gòn - Gia Định và đây cũng là kết quả công tác tuyên truyền giáo dục tổ chức và rèn luyện trong đấu tranh qua nhiều năm của Đảng bộ thành phố”.

Thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh đã: “Kết thúc vẻ vang quá trình 30 năm chiến tranh giải phóng của dân tộc và bảo vệ Tổ quốc bắt đầu từ Cách mạng Tháng Tám, chấm dứt vĩnh viễn ách thống trị hơn một thế kỷ của chủ nghĩa đế quốc trên đất nước ta, làm cho Tổ quốc ta vĩnh viễn độc lập, thống nhất và đưa cả nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi ấy đã làm thất bại cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới quy mô lớn nhất và dài ngày nhất từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, làm đảo lộn chiến lược toàn cầu của tên đế quốc đầu sỏ, đẩy Mỹ vào tình trạng khó khăn chưa từng thấy”.

III. Ý NGHĨA, NGUYÊN NHÂN THẮNG LỢI VÀ NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRONG SỰ NGHIỆP KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC

1. Ý nghĩa thắng lợi:

1.1. Đối với Nhân dân ta:

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước:

          - Đánh dấu bước ngoặt rất cơ bản, quyết định của con đường cách mạng mà Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch ra từ Chính cương vắn tắt 1930 - Con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tự do, ấm no, hạnh phúc.

          - Kế tục Cách mạng Tháng Tám năm 1945, phát huy thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), là trận đánh quyết định nhất của cuộc chiến đấu 30 năm (1945 - 1975) gian khổ, ác liệt, giành lại và giữ vững nền độc lập tự do, thống nhất Tổ quốc. Từ đây cả dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên mới: Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đẩy lùi nghèo nàn, lạc hậu, tạo lập cuộc sống ấm no, hạnh phúc, dân chủ, công bằng, văn minh.

          - Qua cuộc chiến đấu và chiến thắng, Đảng ta, Nhân dân ta, quân đội ta, dân tộc ta và mỗi người Việt Nam được rèn luyện cả về phẩm chất và tài năng, càng nhận thức sâu sắc hơn, đúng đắn hơn vị trí, khả năng và sức mạnh của mình trong thời đại mới.

          - Nâng vị thế chính trị của Việt Nam trên thế giới lên một tầm cao mới và là niềm tự hào của mỗi người dân Việt Nam trong thế kỷ XX và mai sau.

1.2. Đối với thế giới:

          Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Nhân dân ta:

- Là một thắng lợi tiêu biểu của lực lượng cách mạng thế giới, góp phần thúc đẩy mạnh mẽ cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì độc lập, hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội.

- Đập tan cuộc phản công lớn nhất, kể từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai của chủ nghĩa đế quốc; là trào lưu cách mạng của thời đại, mà mũi nhọn là phong trào giải phóng dân tộc, mở đầu sự phá sản của chủ nghĩa thực dân kiểu mới trên toàn thế giới.

- Làm sáng tỏ tính hiện thực, tính phổ biến của xu thế phát triển của loài người tiến bộ, góp phần động viên cổ vũ các dân tộc dũng cảm, kiên cường, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thực hiện công cuộc giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người và trực tiếp góp phần to lớn vào công cuộc giải phóng dân tộc của nhân dân hai nước láng giềng Lào và Campuchia anh em.

- Là biểu tượng mới về sức mạnh của cách mạng thế giới, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, làm tiêu tan huyền thoại về sức mạnh của đế quốc Mỹ.

- Nêu bật một chân lý: Trong thời đại ngày nay, một dân tộc mà nước không rộng, người không đông, kinh tế kém phát triển, song dân tộc ta đã đoàn kết chặt chẽ và đấu tranh kiên quyết dưới sự lãnh đạo của một Đảng Mácxít-Lêninít, có đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn, kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại thì hoàn toàn có thể đánh bại mọi thế lực xâm lược.

2. Nguyên nhân thắng lợi:

          - Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định hàng đầu bảo đảm thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

          - Nhân dân và các lực lượng vũ trang nhân dân phát huy truyền thống yêu nước của dân tộc, một lòng đi theo Đảng, đi theo Bác Hồ, chiến đấu dũng cảm ngoan cường, bền bỉ, lao động quên mình vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội và vì quyền sống của con người.

          - Cả nước đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động, trên dưới một lòng, triệu người như một, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

          - Kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, tạo thành sức mạnh tổng hợp đánh Mỹ và thắng Mỹ.

          - Đoàn kết, liên minh chiến đấu với nhân dân Lào và nhân dân Campuchia.

3. Những bài học kinh nghiệm trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước:

          - Kiên định, quyết tâm, quyết đánh, quyết thắng đế quốc Mỹ xâm lược.

          - Đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đúng đắn, sáng tạo, độc lập, tự chủ.

          - Nghệ thuật tiến hành chiến tranh Nhân dân sáng tạo.

          - Tổ chức lực lượng cả nước đánh giặc.

          - Xây dựng căn cứ địa cách mạng, hậu phương kháng chiến vững chắc, phát huy vai trò của hậu phương lớn và hậu phương vững chắc.

          - Phát huy sức mạnh đoàn kết chiến đấu của ba dân tộc Việt Nam, Lào, Campuchia để cùng nhau đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược.

          - Đoàn kết quốc tế, phát huy sức mạnh của thời đại gắn với sức mạnh dân tộc.

          - Bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người.

 

          Phát huy truyền thống cách mạng kiên cường, đoàn kết, năng động, sáng tạo, Đảng bộ và Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã tạo ra sự biến đổi to lớn sâu sắc, toàn diện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, mang lại những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, làm nên diện mạo mới cho thành phố thân yêu. Qua 30 năm thực hiện đường lối đổi mới (1986 - 2015) một chặng đường hết sức quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ, phát triển thành phố; Đảng bộ và Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã đạt được thành tựu: Giữ vững ổn định chính trị, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển của thành phố; kinh tế duy trì tăng trưởng hàng năm ở mức cao; công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch và phát triển đô thị có nhiều tiến bộ, đã thúc đẩy sự phát triển các lĩnh vực của đời sống xã hội; đời sống Nhân dân được cải thiện, thu nhập từng bước được nâng lên; năng lực lãnh đạo của Đảng bộ, hiệu lực, hiệu quả quản lý của chính quyền được nâng lên, kỷ cương được tăng cường; dân chủ được mở rộng, vai trò của Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội được phát huy.

Để thành phố tiếp tục giữ vững vai trò quan trọng đối với sự phát triển chung của cả nước, Đảng bộ, quân và dân thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và toàn diện hơn nữa; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ; phát huy dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, tính năng động, sáng tạo của Nhân dân thành phố; huy động mọi nguồn lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển kết cấu hạ tầng, thích ứng với biến đổi khí hậu; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho Nhân dân; giữ vững ổn định chính trị - xã hội; bảo đảm quốc phòng - an ninh; xây dựng thành phố Hồ Chí Minh văn minh, hiện đại, nghĩa tình; phát triển nhanh và bền vững, đóng góp ngày càng lớn cho cả nước, từng bước trở thành một trung tâm công nghiệp, dịch vụ, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ của khu vực Đông Nam Á, xứng đáng là thành phố mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại./

       BAN TUYÊN GIÁO THÀNH ỦY 

Những hoạt động tiêu biểu trong tháng thanh niên 3/2017

Những hoạt động tiêu biểu trong tháng thanh niên 3/2017

Chào mừng 86 năm ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, chào mừng Đại hội Đoàn các cấp nhiệm kỳ 2017 - 2022 

Chuyện ông "Năm Hấp" lấy đất nhà mình mở chợ cho người bán hàng rong ở Sài Gòn

ongnam

Thương các cô hàng rong bị bắt liên tục vì lấn chiếm vỉa hè, vợ chồng ông Năm bàn với nhau dùng mảnh đất ở phía sau nhà lập thành cái chợ nhỏ, rồi kêu gọi bà con vào buôn bán cho ổn định. Và đương nhiên là ông bà Năm chẳng lấy một đồng tiền mặt bằng.

 

Nhiều người bảo ông bà Năm lo chuyện bao đồng, ở cái xứ tấc đất, tấc vàng này người ta mà có mảnh đất to như vậy thì cho mướn mỗi tháng cũng có mấy chục triệu dằn túi, chứ ai lại đem cho người dân đến ngồi buôn bán mà không lấy một đồng tiền phí. Ông bà Năm chỉ cười vì những điều họ làm trong suốt 8 năm qua chung quy cũng là vì cái tình người.

Ngôi chợ không tên của dân hàng rong ở Sài Gòn

Ông Lý Văn Hấp (70 tuổi) và bà Nguyễn Thị Lùn (66 tuổi) mà mọi người vẫn gọi với cái tên trìu mến là ông bà Năm là chủ nhân của ngôi chợ không tên nằm trên Đường T1 (phường 15, quận Tân Phú).

Ông bà Năm - đôi vợ chồng già lập chợ miễn phí cho người bán hàng rong ở quận Tân Phú, Sài Gòn.

Ông bà Năm vốn sinh ra và lớn lên ở Sài Gòn, cũng trong con phố này, hai người là đôi bạn thân từ thuở nhỏ, rồi lớn lên, yêu nhau và bên nhau hạnh phúc cho đến khi đầu đã hai thứ tóc.

Tâm sự về cơ duyên đưa ông bà Năm quyết định dùng mảnh đất hương hỏa của gia đình để lập thành một khu chợ nhỏ cho người bán hàng rong, ông Năm kể: "Khu vực kênh 19/5 trước đây vốn là kênh nước đen ô nhiễm, khoảng hơn chục năm về trước khu này được quận đầu tư cải tạo lại, xây bờ kè, mở đường thông thoáng, vì vậy dân cư cũng đông lên, đồng thời nhiều khu công nghiệp mở ra nên số lượng công nhân sinh sống cũng nhiều. Nhu cầu mua bán trao đổi cũng tăng, nên nhiều người đến bờ kè để bán hàng rong, đa phần là tôm, cá, rau củ quả...".

Ngồi trong nhà nhìn bà con buôn bán lấn chiếm vỉa hè rồi bị đuổi, bị bắt, ông Năm xót lắm nên quyết định dùng mảnh đất sau nhà làm cái chợ nhỏ cho bà con.

"Người ta bán hàng rong trên khu bờ kè nhiều lắm, người bán rau, người bán thịt... nhưng ai cũng vừa bán vừa nơm nớp lo bị bắt vì lấn chiếm vỉa hè. Hôm nào đang ngồi trong nhà thấy mấy cô hàng rong gom đồ đạc chạy vào nhà trốn, là biết hôm đó có lực lượng chức năng đi kiểm tra. Nhiều cô bị bắt, không có tiền để đóng phạt đành bỏ luôn hàng hóa, đã khó khăn lại càng khó khăn, thấy thương lắm!" - bà Năm tiếp lời chồng.

Những người bán hàng rong hiểu rằng lấn chiếm vỉa hè là phạm luật, nhưng cuộc sống của họ vốn khó khăn nên họ đành nhắm mắt vi phạm.

Thương cảnh các gánh hàng rong phải chạy ngược chạy xuôi, ông bà Năm mới ngồi bàn với nhau tìm cách gì đó để giúp họ. Được sự gợi ý của phường, ông bà quyết định dùng mảnh đất ở sau nhà lập thành cái chợ nhỏ, để bà con có chỗ buôn bán ổn định, không lấn chiếm vỉa hè.

Mảnh đất phía sau nhà được ông bà Năm lập thành chợ để bà con đến buôn bán.

Mỗi buổi sáng, ông đều đi bộ ra chợ, phụ bà con sắp xếp hàng hóa.

Ông Năm kể: "Tui cho chặt hết cây ăn quả ở vườn phía sau, thuê người về đổ nền, chia từng ô nhỏ, lắp điện nước, rồi kêu gọi những người bán hàng rong đến buôn bán. Ban đầu nhiều người còn nghi ngại không dám vào vì họ nghĩ tui lập chợ ra để thu tiền. Nhưng khi biết tui không thu tiền họ rất phấn khởi, đến nay cũng có khoảng 30 hộ đang kinh doanh ở trong khu chợ này".

Chẳng có giấy tờ ràng buộc nào giữa người bán và ông Năm, ai muốn bán thì cứ đến nói với ông rồi đem hàng ra chợ bán. Người nào khó khăn quá, ông bà Năm còn cho vay một ít vốn để kinh doanh. Chợ đi vào hoạt động chính thức từ năm 2009, vốn dĩ là chợ không tên, nhưng lâu dần mọi người yêu thương nên gọi với cái tên thân thương: Chợ ông Năm Hấp.

Chợ sẽ nghỉ bán từ khoảng 11, 12 giờ trưa đến 4 giờ chiều mới bán lại. Buổi chiều khách ít hơn, người bán cũng nhàn nhã hơn.

Ông Năm nói: "Tùy người bán có khả năng bày biện hàng hóa ra sao thì làm, chứ tui không có chia lô chia sạp gì hết, ai muốn bán sao thì bán hà!"

Những niềm vui chẳng mua được bằng tiền

Trước đây, người bán hàng phải tự che dù để buôn bán, nên mỗi lần mưa lớn hay nắng nóng mọi người đều rất vất vả. Thấy thế, ông bà Năm dựng thêm mái che bằng tôn, để che nắng che mưa cho bà con.

Chị Diệu (Trà Vinh) kinh doanh hải sản ở chợ "Ông Năm" chia sẻ: "Trước đây chị bán cá ở chỗ kênh 19/5 nè, bị dí chạy miết, có bữa bị bắt, mất hết vốn. Cũng nhờ Bố Năm cho vay ít tiền nên chị mới gây dựng lại được. Bán trong chợ ổn định, nên thu nhập cũng ổn định, không còn phải vất vả như ngày xưa".

 

Chị Diệu xem ông bà Năm như những người thân trong nhà.

"Lâu lâu đi du lịch xa nhà, trở về nghe bà con gọi "Ô chú Năm ra kìa", "bác Năm về kìa" mà thấy vui. Có người còn gọi "Bố! Bố!" nữa", ông Năm chia sẻ.

Dù không thu tiền phí mặt bằng của người bán hàng, nhưng để phụ chi trả những khoản tiền điện nước, vệ sinh, mỗi ngày các tiểu thương sẽ đóng góp cho ông Năm 30.000 đồng. "Ngày nào có đến bán thì ngày đó đóng, những ai xài điện nước nhiều thì đóng 30 ngàn, còn như mấy cô bán rau ít xài điện nước thì đóng 20 ngàn thôi. Đóng để phụ ông ông bà Năm trả lo chi phí chứ cũng không bao nhiêu" - chị Hà (bán trứng) cho biết.

Chị Hà rất vui vì có chỗ kinh doanh ổn định hơn trước đây.

Bất kể sáng hay chiều, hễ có thời gian là ông bà Năm lại đi dạo ra chợ để trò chuyện với mọi người. Ông bà bảo riết rồi thành thói quen, thành cái niềm vui mỗi ngày. "Có những niềm vui mà mình không thể nào mua bằng tiền bạc. Giống như việc mình giúp đỡ người dân có chỗ buôn bán, rồi họ cảm ơn mình bằng cách mời mình ăn chung một miếng bánh ướt chấm nước tương, hay bán giá vốn cho mình... những điều tưởng chừng rất nhỏ thôi nhưng tình cảm lắm" - ông Năm tâm sự.

Ông bà Năm thường cùng nhau đi xuống chợ chơi với mọi người.

Sống trong cái khổ rồi mình sẽ hiểu và thương những con người đang phải đối mặt với cái khổ hằng ngày, tôi vẫn nhớ mãi điều mà ông Năm tâm sự. Chắc cũng chính vì thế mà suốt 8 năm qua, ông bà vẫn luôn hết lòng với những người bán hàng rong mà chẳng một chút tính toán thiệt hơn. Và cũng nhờ vậy ông bà Năm trẻ mãi, chẳng chịu già.

Ông Năm cười sảng khoái kể: "Hôm trước có người hỏi tui rằng: 'Chợ mình mấy giờ mở cửa, mấy giờ đóng cửa vậy chú Năm?'. Tui mới nói là chợ này làm gì có cửa mà mở với đóng, chợ ở đó, ai có nhu cầu thì tới bán, ngồi bao lâu thì ngồi, miễn thấy thoải mái là được".

nguồn Kenh14.vn

Kỷ niệm 87 năm thành lập Đảng: Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng

dang

Thực tiễn phong phú của cách mạng Việt Nam trong suốt 87 năm qua đã chứng minh rằng sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đồng thời chính trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta được tôi luyện, thử thách và không ngừng trưởng thành, dày dạn kinh nghiệm để ngày càng xứng đáng với vai trò và sứ mệnh lãnh đạo cách mạng, xứng đáng với sự tin cậy của nhân dân.

Thành tựu quan trọng

Tám mươi bảy năm qua, dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng, đất nước ta, dân tộc ta đã giành được những thắng lợi vẻ vang, lập nên những kỳ tích trong thế kỷ XX: Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, khai sinh Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa; Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu; Chiến dịch Hồ Chí Minh thắng lợi, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước năm 1975...

Từ một nước nô lệ, Việt Nam đã trở thành một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, không ngừng vươn lên trong xây dựng, phát triển, đổi mới và hội nhập quốc tế. Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh, lại bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã nỗ lực xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống nhân dân, chăm lo phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chủ động hội nhập quốc tế.

Trong thời kỳ đổi mới, Đảng đã lãnh đạo đất nước vượt qua khó khăn, thách thức và đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân trong hơn 30 năm vừa qua luôn duy trì ở mức cao, bình quân đạt 6,66%/năm; GDP bình quân đầu người đạt khoảng 2.200 USD, tăng gần 25 lần so với năm 1988, đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, đạt nhiều thành tựu trong thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao về công tác xóa đói, giảm nghèo; phổ cập giáo dục; xây dựng nông thôn mới...

Độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; quốc phòng, an ninh được tăng cường. Công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế được tiếp tục được triển khai mạnh mẽ, toàn diện, đi vào chiều sâu mang lại hiệu quả thiết thực. Hiện nay, Việt Nam có quan hệ ngoại giao với 187 nước; quan hệ kinh tế, thương mại với 220 nước và vùng lãnh thổ; ký kết 12 Hiệp định thương mại tự do (FTA) đa phương và song phương. Vị thế, Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao, góp phần duy trì môi trường hòa bình, ổn định, thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam ngày càng khẳng định là một thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, chủ động tham gia nhiều cơ chế, diễn đàn hợp tác đa phương, tham gia giải quyết những vấn đề lớn, toàn cầu.

Năm 2016 với bộn bề khó khăn, thách thức, nhưng dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, đất nước ta vẫn đạt nhiều kết quả đáng khích lệ trên các lĩnh vực. GDP tăng trưởng khá 6,21%, cao hơn các nước đang phát triển ở châu Á và khu vực Đông Nam Á.

Kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm. Môi trường kinh doanh được cải thiện, Việt Nam xếp thứ 89/190, tăng 9 bậc so với năm 2015. Ngành du lịch đã đạt kỷ lục đón 10 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 62 triệu lượt khách nội địa. Các lĩnh vực xã hội có nhiều tiến bộ, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn đa chiều giảm còn khoảng 8,5%... Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân tiếp tục được cải thiện.

Với những thành tựu to lớn đã đạt được, đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ và vị thế như ngày nay. Đó là kết quả phấn đấu của toàn dân, toàn quân ta, dưới sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng.

Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn giữ vững bản lĩnh chính trị, bản chất cách mạng và khoa học; kiên định chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được thường xuyên chăm lo và đạt nhiều kết quả tích cực. Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng không ngừng được nâng cao; phương thức lãnh đạo của Đảng từng bước được đổi mới, hoàn thiện; vai trò lãnh đạo của Đảng được giữ vững. Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân được củng cố và tăng cường; chính trị - xã hội ổn định.

Các cấp ủy Đảng đã quan tâm phát hiện, ngăn chặn và xử lý tiêu cực, sai phạm. Việc thực hành tiết kiệm chống lãng phí theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã chuyển biến rõ nét. Tinh thần thái độ phục vụ nhân dân, ý thức trách nhiệm với công việc được giao của cán bộ được nâng lên, góp phần khắc phục một bước tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Niềm tin của nhân dân được củng cố. Sức mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên với triển vọng tốt đẹp.

Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang ra sức phấn đấu đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mở cửa hội nhập quốc tế, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Bối cảnh quốc tế và tình hình trong nước bên cạnh mặt thuận lợi, thời cơ, cũng có nhiều khó khăn, thách thức đan xen, nhiều vấn đề mới phải xử lý, giải quyết.

Trong bối cảnh đó, để vượt qua được những khó khăn, thách thức, Đảng càng phải thường xuyên, liên tục, tập trung cao độ để xây dựng, chỉnh đốn Đảng, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, xứng đáng là đội tiên phong lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc.

Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã nêu rõ trong những năm tới, phải đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng Đảng; xác định nhiệm vụ trọng tâm thứ nhất trong nhiệm kỳ là "Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ".

Cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XII, tại Hội nghị lần thứ 4 khóa XII, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; khẳng định quyết tâm chính trị rất cao, nỗ lực rất lớn và tư tưởng nhất quán của Đảng ta về tầm quan trọng đặc biệt của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Nghị quyết xác định rõ mục tiêu, quan điểm chỉ đạo; đề ra 4 nhóm giải pháp đồng bộ, chính diện, quyết liệt nhằm ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, xây dựng Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh.

Cả hệ thống chính trị đã cùng vào cuộc, phát huy trách nhiệm, hiện thực hóa quyết tâm xây dựng, chỉnh đốn Đảng bằng những hành động cụ thể. Gần đây, một loạt quy định của Trung ương được ban hành: Thông báo Kết luận của Ban Bí thư về việc xác định tuổi của đảng viên, Quy định số 55-QĐ/TW về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, Chỉ thị số 11-CT/TW về việc tổ chức Tết năm 2017; Các quyết định, nghị quyết, kết luận của Ban Bí thư, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban Kiểm tra Trung ương kỷ luật một số cán bộ lãnh đạo, nguyên lãnh đạo cấp cao liên quan đến tiêu cực... Những việc đã làm thời gian gần đây khẳng định quyết tâm của Đảng ta trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh không khoan nhượng với những hành vi tham nhũng, tiêu cực, suy thoái; không ngừng củng cố, xây dựng đội ngũ trong sạch vững mạnh.

Để nâng cao được năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, trong nhiều văn kiện, nghị quyết qua các thời kỳ, Đảng ta luôn xác định xây dựng Đảng là nhiệm vụ "then chốt". Bởi Đảng ta có thực sự trong sạch vững mạnh mới nâng tầm lãnh đạo đất nước, đưa con thuyền cách mạng của Đảng, của dân tộc tiếp tục vững bước đi tới những thành công, xứng đáng với niềm tin yêu và sự kỳ vọng của nhân dân.

Xuân Đinh Dậu đã về, một năm mới với nhiều ước vọng và niềm tin vào tương lai tươi sáng của đất nước trong những chặng đường tiếp theo. Kỷ niệm 87 năm ngày thành lập Đảng, tự hào về Đảng quang vinh, mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân Việt Nam càng thấy rõ hơn trách nhiệm của mình trong việc góp phần xây dựng Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh để tiếp tục lãnh đạo đất nước đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế./.
Nguồn: Tạp chí cộng sản
 

ĐOÀN KHỐI CƠ SỞ BỘ XÂY DỰNG

Địa chỉ: Lầu 4, Số 14, Kỳ Đồng, F.9, Q.3, TP. HCM
Điện thoại: (08) 22 41 45 92 - Fax: (08) 3 5262560
Website: www.tuoitreboxaydung.vn
Visitors
5
Articles
589
Web Links
9
Articles View Hits
1433163